Thận trọng khi tiếp nhận một số lý thuyết văn học ngoại nhập (*)

LTS - Hội nghị Lý luận, phê bình văn học lần thứ IV với chủ đề “Văn học - 30 năm đổi mới, hội nhập và phát triển” vừa kết thúc tại Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc). Chúng tôi trích giới thiệu tham luận của nhà phê bình văn học NGUYỄN HÒA.

Năm 2014, trong bài Văn chương hôm nay đang bị sa lầy đăng trên báo Thanh niên, nhà văn Nguyễn Đình Chính đã viết những điều mà từ sự đồng cảm với ông, tôi xin dẫn lại một số đoạn: “Sự đổi mới sáng tạo đó là ước muốn vươn tới một sự hoàn thiện tạo nên những giá trị mới, khám phá những sự thật căn bản, thăm dò phần thâm sâu và tươi mát của cái hiện tại sống động. Cần phải hiểu rằng cái thế giới của sự đổi mới, sáng tạo đích thực lại luôn nằm trong bản chất tươi mới của cái hiện thực sống động… Phải có được sự thấu hiểu thật thâm sâu về bản chất tối hậu của cái thực tại sống động. Nếu không đạt tới một tầm vóc đó thì lao động sáng tạo của người trí thức, văn nghệ sĩ chỉ phí công vô ích và sẽ liên tục bị dằn vặt để sản sinh ra những gì mà thật sự đời sống không cần đến. Vì vậy, người văn nghệ sĩ phải có một tầm nhìn sâu rộng, một trí tuệ minh triết và một thái độ khoan dung, tránh không bị cuốn vào cơn gió lốc tư tưởng Tây phương gần hai thế kỷ nay đang rơi vào tình trạng ảm đạm, do bị sa vào cái bẫy của Chuẩn thức tư duy nhị nguyên phân biệt, nên mất dần khả năng tiếp cận được với cái thực tại sống động đang diễn ra… Mặc dù hiện nay lao động trí tuệ sáng tạo, trong đó có văn học - nghệ thuật đang được tung hoành trong một môi trường có nhiều tự do, cởi mở nhưng không ít sáng tạo mới, đặc biệt là văn học - nghệ thuật lại đang dần lộ nguyên hình là giả trá, dễ dãi và lòe mắt thiên hạ. Những tác phẩm đó chỉ mang đến những lạc thú quyến rũ nhất thời, sự thỏa thích nông cạn khiến người sinh đẻ ra nó và đám đông tiếp nhận nó dễ dàng sa ngã, rốt cuộc chỉ mang đến thất vọng và nỗi bất an sâu sắc. Lao động trí tuệ sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật mới đích thực rất khắc nghiệt, liên tục từng phút, từng giây đòi hỏi người sáng tạo ra nó, đến đám đông tiếp xúc với nó, đều phải cố gắng chiến thắng bản thân... Phải dồn hết cả tâm huyết tiến dần vào con đường minh triết nội tâm, xây dựng cho mình một nhận thức luận mới để tiếp cận được cái bản chất tối hậu của thực tại sống động. Từ đó, họ mới có thể vượt thoát khỏi cái bẫy của chuẩn thức tư duy nhị nguyên phân biệt đơn giản, hội đủ các nguyên nhân, điều kiện tiến lên trên con đường Khai mở tư duy sáng tạo trong các hoạt động văn học nghệ thuật mới cho nước nhà”.

Thiển nghĩ, các câu chữ này được viết sau nhiều năm tác giả sống với văn chương, và tôi muốn đặt câu hỏi: Khi đặt vấn đề nhà văn cần có tầm nhìn sâu rộng, trí tuệ minh triết, thái độ khoan dung, thấu hiểu bản chất tối hậu của thực tại sống động,… thì ngoài sự trải nghiệm của bản thân, Nguyễn Đình Chính có liên hệ tới việc cha anh - nhà văn Nguyễn Đình Thi, ngay từ khi tuổi mới đôi mươi đã viết Triết học Căng, Triết học Nít-sơ, Triết học Anh-xtanh, Siêu hình học? Tôi đặt câu hỏi vì nghĩ, dù là sách nhập môn thì ở Việt Nam, trước và sau Nguyễn Đình Thi rất ít người làm được. Từ góc nhìn của mình tôi cho rằng, chính sự tự ý thức đã tạo nên tiền đề để Nguyễn Đình Thi tự mình xây dựng “nhận thức luận mới để tiếp cận được cái bản chất tối hậu của thực tại sống động”, và điều này thể hiện rất rõ trong tác phẩm của ông.

Từ vai trò của nhận thức với hoạt động thực tiễn của con người, với nhà văn, nhận thức mới không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình tự giác dấn thân, bỏ công sức học hỏi từ cuộc sống và từ sách vở, phải trăn trở suy nghĩ để phát hiện vấn đề xã hội - con người một cách bản chất, thậm chí phải trả giá,… thì may ra mới có kết quả. Với nhà văn, nhận thức mới không đồng nghĩa với những gì rút ra từ quan sát cảm tính, không đồng nghĩa với nỗi bức xúc nhất thời, đua theo người khác, viết như để chứng tỏ mình hiểu biết, không lạc lõng trước mấy xu hướng đang được vài ba nhà lý luận, nghiên cứu, phê bình coi là “mới”. Càng không đồng nghĩa với việc chỉ đưa vào tác phẩm năm bảy câu nói của Sa-ki-a-mu-ni, Giê-xu, Khổng Tử, Lão Tử, A-ri-xtốt, R.Đê-ca-tơ, I.Căng, P.Ni-ê-sê, G.P.Xác-trơ, G.Đê-ri-ta,… là chứng tỏ nhận thức mới sâu sắc, có tính tư tưởng, hay tri thức uyên thâm! Bởi, kết quả nhận thức mới biểu thị qua tác phẩm - nơi thể hiện khả năng khám phá, nắm bắt bản chất vấn đề xã hội - con người được nhà văn đề cập từ góc độ thẩm mỹ; nơi nhà văn đưa ra trước bạn đọc một (các) ý tưởng văn học, và tìm tòi, sáng tạo hình thức tương ứng. Theo tôi, việc nhà văn thiếu nhận thức mới, thậm chí coi nhẹ vai trò của nhận thức là một trong các nguyên nhân lý giải vì sao mấy chục năm qua văn học Việt Nam vẫn chưa có tác phẩm đỉnh cao. Dường như vệt kéo dài của văn chương tả thực, thói quen nệ đề tài hoặc chạy theo đề tài được coi là “hót”, quan tâm đến cốt truyện hơn là xác định tác phẩm phải bắt đầu từ ý tưởng, rồi sự dễ dàng khi đăng tải, in ấn,… khiến nhà văn coi nhẹ vai trò của nhận thức, coi nhẹ việc suy xét một cách lý trí về xã hội - con người?

Thực tế các năm qua cho thấy nhiều tác phẩm văn học trở thành sự kiện đình đám, không ít tác giả sau khi trình làng tác phẩm được dự báo như tài năng mới xuất hiện, nhưng thử hỏi đã có bao nhiêu sự kiện đình đám tồn tại cùng thời gian? Một tác phẩm với câu chuyện được kể lớp lang, hấp dẫn, có thể làm người đọc nhất thời say mê nhưng “tuổi thọ” sẽ không cao nếu thiếu các giá trị có khả năng vượt thời gian. Một tác phẩm có đề tài đáp ứng nhu cầu thời sự có thể giúp bạn đọc và nhà phê bình “xả súp-páp” trong thời gian nhất định, nhưng sẽ sớm bị lãng quên khi vấn đề thời sự có biến động - thay đổi, tác phẩm khác ra đời, thay thế; và sau khi “xả súp-páp” xong, hầu như ít ai nhận ra căn nguyên chủ yếu thường là: để đáp ứng kịp thời nhu cầu thời sự, tác phẩm được tác giả lấp đầy hiện thực, mọi sự rành mạch tới mức đọc xong ít phải suy ngẫm, trăn trở, vì tác phẩm không tạo ra được các “khoảng trắng” giống như ánh sáng trắng nhưng lại là “hỗn hợp của mọi ánh sáng đơn sắc, trong đó có bảy mầu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím”. “Khoảng trắng” hấp dẫn, lôi cuốn và thách đố người đọc, mỗi thế hệ lại suy ngẫm, giải mã, khẳng định ý nghĩa mới, hoặc tranh luận sôi nổi như mấy trăm năm qua người Việt Nam vẫn đọc, khám phá Truyện Kiều. Đặc biệt, một tác phẩm được viết như là để chứng minh “tây có, ta cũng có” sẽ không bao giờ trở nên bất hủ, vì thiếu điều căn cốt là không gắn với bản chất quá trình chuyển dịch của nhận thức, tâm thế xã hội. Còn khi một số nhà văn, nhà lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học đánh đồng sự chuyển dịch nhận thức, tâm thế của nhà văn phương Tây trong điều kiện vật chất - tinh thần mang đặc trưng phương Tây, với sự chuyển dịch nhận thức, tâm thế của nhà văn Việt Nam trong điều kiện vật chất - tinh thần mang đặc trưng Việt Nam, sẽ dễ dẫn tới sai chênh giữa lý luận và thực tiễn, mà điển hình là việc cổ vũ hoặc gắn “nhãn hiệu” Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền lên một số tác phẩm.

Từ phạm vi khảo sát của cá nhân, tôi thấy Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền có xu hướng chính trị - xã hội hơn là văn học - nghệ thuật, ít chú ý yếu tố nghệ thuật, nếu không nói khá mờ nhạt. Nói cách khác, các lý thuyết đó đưa ra nhiều khái niệm chủ yếu mang tính xã hội hơn là tính thẩm mỹ, như: vi văn bản, siêu văn bản, tiểu văn bản, đại tự sự, sai, giải trung tâm, giải cấu trúc, phi trung tâm hóa, mảnh, phân mảnh,… trong Hậu hiện đại; trung tâm, bên lề, ngoại vi, cái khác, kẻ khác, không gian ngoại vi, không gian kháng cự, ngoại biên hóa… trong Hậu thực dân; nam tính, nữ tính, phái tính, văn hóa phụ quyền, chủ nghĩa dương vật,… trong Nữ quyền. Điều này có căn nguyên, ít nhất ở chỗ mục đích của chúng là giải quyết những vấn đề xã hội - con người nảy sinh ở phương Tây. Vì từ góc độ tiếp cận của quan hệ lý luận và thực tiễn, có thể thấy Hậu hiện đại, Hậu thực dân, Nữ quyền ra đời từ sự khái quát thực tiễn kinh tế - chính trị - văn hóa ở phương Tây, cho nên trước khi tiếp nhận và vận dụng cần tìm hiểu chúng có ý nghĩa phổ quát với mọi nền kinh tế - chính trị - văn hóa trên thế giới hay không. Về phần nó, dù văn học quan thiết như thế nào vẫn không đứng ngoài thực tiễn kinh tế - chính trị - văn hóa đã khai sinh ra nó, và dù nhà văn có khả năng thâu nhận, mô tả, dự báo, cảnh báo, tiên đoán,… sâu sắc đến đâu thì cũng không phải là chủ thể sáng tạo độc đáo tới mức chỉ bằng hư cấu chủ quan và trí tưởng tượng phi hiện thực là đã có thể sản xuất các giá trị nghệ thuật mang ý nghĩa thực tiễn.



(*) Đầu đề là của Báo Nhân Dân.

Có thể bạn quan tâm