Theo đó, Chiến lược xác định phát triển ngành than trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, đồng bộ, bao gồm: thăm dò, khai thác, sàng tuyển, vận chuyển, chế biến, phân phối, và xuất nhập khẩu nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu than cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường.
Khẳng định vị thế than Việt Nam
Trong giai đoạn từ năm 1995-2005, đặc biệt là từ 2000 - 2005, ngành than đã có bước tăng trưởng đáng kể cả về sản lượng và quy mô sản xuất. Tổng sản lượng than sạch sản xuất toàn ngành đã tăng từ 8,35 triệu tấn năm 1995 lên 32,6 triệu tấn vào năm 2005 (bình quân đạt 14,6%/năm). Sản lượng và giá trị xuất khẩu than trong thời gian này cũng tăng mạnh: từ 2,78 triệu tấn và 95 triệu USD lên 17,88 triệu tấn và 658 triệu USD.
Để có được thành công này, ngành than đã chú trọng quan tâm đến đầu tư cho công tác thăm dò. Chỉ riêng từ năm 1995 đến 2003, Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV) đã đầu tư 230,7 tỷ đồng cho công tác thăm dò địa chất, với tổng số mét khoan thăm dò là 169.438.
Trong số các mỏ đang hoạt động (không kể các mỏ than địa phưng và than bùn) có 32 mỏ đã được thăm dò tỉ mỉ, 14 mỏ đã được thăm dò sơ bộ, chỉ còn 5 mỏ là đang ở giai đoạn tìm kiếm tỉ mỉ.
Ngoài ra, để chuẩn bị tài nguyên cho tương lai, TKV đã được Chính phủ cho phép hợp tác với NEDO (Nhật Bản) tiến hành thăm dò đánh giá tài nguyên bể than Đồng bằng sông Hồng, thăm dò và đánh giá than dưới mức - 300m đến đáy tầng chứa than bể than Quảng Ninh.
Hiện tại, toàn ngành có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất trên dưới hai triệu tấn than nguyên khai/năm, 15 mỏ lộ thiên vừa và công trường lộ thiên (thuộc các công ty than hầm lò quản lý) sản xuất với công suất từ 100.000 tấn - dưới một triệu tấn than nguyên khai/năm, trên 30 mỏ hầm lò đang hoạt động (trong đó có tám mỏ có trữ lượng huy động lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng tưng đối hoàn chỉnh, khai thác với công suất từ một triệu tấn/năm trở lên; các mỏ còn lại có sản lượng khai thác dưới một triệu tấn/năm).
Đáng chú ý là trong những năm vừa qua, TKV đã có rất nhiều cố gắng trong công tác quản lý an toàn, đặc biệt là trong khai thác than hầm lò từ công tác tổ chức đến đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ.
TKV đã xây dựng Trung tâm an toàn mỏ, lắp đặt hệ thống cảnh báo khí CH4 tự động cho Công ty than Mạo Khê và thiết bị cảnh báo di động cho tất cả các mỏ hầm lò, hiện đại hóa Trung tâm cấp cứu mỏ của ba khu vực, củng cố hệ thống cấp cứu mỏ bán chuyên tại các mỏ; quy định từ năm 2005, mỗi mỏ phải có một phó giám đốc chuyên trách về an toàn...
Bên cạnh đó, để khắc phục hậu quả môi trường vùng mỏ đã bị suy thoái sau nhiều thập kỷ để lại, đồng thời để bảo vệ môi trường sinh thái, danh lam thắng cảnh, các di tích văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, TKV đã thực hiện chương trình tổng thể đánh giá tác động môi trường vùng than Quảng Ninh và đề ra các giải pháp và chương trình cải thiện môi trường. Kinh phí cho các công trình bảo vệ môi trường đã tăng từ 47,98 tỷ đồng năm 2003 lên 69,91 tỷ đồng năm 2004, và 208,9 tỷ đồng vào năm 2006.
Tăng trưởng bền vững để hội nhập
Chiến lược phát triển ngành, do Bộ Công nghiệp xây dựng dựa trên sáu quan điểm phát triển.
Thứ nhất là khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước; kết hợp với xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần và tiến đến không xuất khẩu than; đáp ứng tối đa nhu cầu than trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ hai, phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hướng đồng bộ, cân đối với phát triển chung của các ngành kinh tế khác. Thứ ba, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong thăm dò, khai thác, sàng tuyển, chế biến và sử dụng than. Thứ tư là, tích cực đầu tư thăm dò ra nước ngoài, khai thác nhanh nguồn tài nguyên than nước ngoài để bổ sung cho sự thiếu hụt từ khai thác trong nước.
Thứ năm là, từng bước hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh trong ngành than. Thứ sáu là, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, an ninh quốc phòng vùng than, đặc biệt là vùng than Quảng Ninh.
Theo đó, về lĩnh vực thăm dò than, Chiến lược xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 thăm dò đánh giá xong phần tài nguyên than nằm dưới mức -300 m đến đáy tầng than ở bể than Quảng Ninh, đồng thời thăm dò tỉ mỉ một phần bể than Đồng bằng sông Hồng, đến năm 2015 thăm dò đánh giá xong phần tài nguyên bể than Đồng bằng sông Hồng. Đến năm 2010 gia tăng trữ lượng than xác minh để có thể huy động vào khai thác khoảng 46- 51 triệu tấn than nguyên khai, đến năm 2015: khoảng 50 - 55 triệu tấn than nguyên khai, đến 2020: khoảng 57- 62 triệu tấn than nguyên khai, và đến năm 2025: khoảng 63- 68 triệu tấn.
Các biện pháp tổng hợp sẽ được áp dụng để quản trị hiệu quả tài nguyên than, phấn đấu đến năm 2015 giảm tổn thất chung của toàn ngành xuống dưới 30% và đến năm 2025 xuống dưới 25%.
Về khai thác than, sẽ khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước để sử dụng lâu dài, phấn đấu sản lượng than sạch đạt 40-43 triệu tấn vào năm 2010, 48-51 triệu tấn vào năm 2015, 55-58 triệu tấn vào năm 2020, 58- 61 triệu tấn vào năm 2025, nâng sản lượng than sạch lên khoảng 200 triệu tấn vào năm 2050.
Về xuất khẩu than: xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm dần và tiến đến không xuất khẩu than: đến năm 2010 giảm xuất khẩu xuống còn 12 triệu tấn, đến năm 2015 giảm còn 5 triệu tấn, sau 2015 giảm dần và tiến tới không xuất khẩu.
Về thị trường than: phấn đấu đến năm 2010 thiết lập được hệ thống cơ chế, chính sách hình thành thị trường than cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, tạo sự công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh than, không phân biệt thành phần kinh tế.
Về bảo vệ môi trường: phấn đấu đến năm 2020, các công trình khai thác, sàng tuyển, chế biến và sử dụng than phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của ngành.