Đến đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nhiều hiện vật có giá trị cao của nền mỹ thuật chạm khắc thế kỷ 17. Được lần theo từng viên ngói cổ, từng phiến đá, bâng khuâng hoài niệm về một vương triều kéo gần 400 năm. Mà còn được một người đã 20 năm gắn bó, góp công tôn tạo, giữ gìn khu di tích này, bà Lê Thị Thái, hậu duệ của vua Lê Hiển Tông.
Thái Miếu thời vàng son
Đền thờ nhà Lê còn gọi là Thái miếu nhà Hậu Lê ở làng Kiều Đại, nay là Quảng Xá, phường Đông Vệ (thành phố Thanh Hóa). Thái miếu được xây dựng năm 1428 tại Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Sau khi bị hoả hoạn, Thái miếu được chuyển về Thăng Long. Năm 1802, vua Gia Long cho dời tiếp về đây.
Thái miếu nhà Hậu Lê là nơi đang lưu thờ tất cả bài vị của 27 vua ( 21 vua tại vị và 6 vua được truy phong) của nhà Hậu Lê (1418 – 1789) cùng các bà Hoàng thái hậu. Nơi đây còn thờ hai bậc công thần khai quốc là Nguyễn Trãi và Lê Lai. Đặc biệt, còn có 6 bức tượng của Thần Tông Hoàng đế cùng năm bà phi quốc tịch khác nhau: Hà Lan, Mường, hai người vợ Chăm và một bà quê Kinh Bắc.
Dưới thời phong kiến, tôn miếu gắn chặt với xã tắc là hai hình ảnh cao cả nhất. Những việc trọng đại của quốc gia thường được cáo ở Thái Miếu. Đất Bố Vệ là nơi phát tích các đời vua Lê Trung Hưng với Thái Miếu từ Thăng Long chuyển về khác hẳn với các đền Lê bình thường khác. Từ đó, trở thành trung tâm tôn thờ của nhà Lê từ Lê Sơ đến Lê Trung Hưng cùng với các lăng mộ ở Lam Kinh thuộc xã Xuân Lâm, nơi phát tích của các vua thời Lê Sơ.
Thái Miếu nhà Lê có vai trò quan trọng, năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long đã nói " Giữ việc thờ cúng Thái Miếu nhà Lê là một trọng điểm của triều đình". Người già nơi đây còn kể lại nhiều lần vua Bảo Đại, các quan tỉnh huyện, tới đây tế lễ và dâng hương.
Nữ hậu duệ tâm đức
Trải qua thời gian và qua hai cuộc chiến tranh, Thái miếu đã xuống cấp nghiêm trọng. Hiện, vườn cây trong Thái miếu còn lưu giữ “phế tích” của thời chống chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đó là khẩu pháo cao xạ, nòng dài hơn 2 mét.
Bà Lê Thị Thái.
Trước khi có dự án tôn tạo, Thái Miếu chủ yếu dựa vào những tấm lòng nhân đức của những phật tử xa gần. Trong đó nổi lên tấm gương sáng là bà Lê Thị Thái. Năm nay bà Thái đã gần 90 tuổi, nhưng vẫn còn minh mẫn. Mặc dù hôm chúng tôi ghé thăm, bà đang phải uống thuốc.
Giọng sang sảng, bà Thái khoe: "Tôi tự hào là con cháu của các vua Lê. Ông nội tôi là cụ Lê Duy Diệm, một bậc túc nho, dù chỉ hai lần đỗ tú tài nhưng cụ rất có uy tín trong giới sỹ phu đất Đông Sơn."
Căn nguyên gì dẫn bà tới nơi này? Tâm thức của cụ trôi về khoảng thời gian cách đây 20 năm. Bà Thái kể: Nhà tôi ở đối diện với khu Thái Miếu. Trước đây, ngày lễ, chúng tôi đến đây dâng hương. Thời gian lớn tôi giành cho việc kiếm sống. Hồi ấy tôi đang làm ăn buôn bán phát đạt lắm.
Một đêm, tôi nằm mơ thấy mình đi tới một quả núi to, dưới chân núi có con sông vừa dài, vừa rộng. Hàng trăm bậc tam cấp bước xuống dòng sông. Tôi bảo anh lái đò luồn lách qua những hang động. Trong hang toàn đồ thờ cúng, rực rỡ, chói lòa cả mắt. Tôi bừng tỉnh giấc mơ. Thấy điềm lạ, tôi tâm sự với một người bạn. Người bạn tôi nói nhiều tới những việc làm công quả.
Ngay lập tức, tôi bỏ công việc làm ăn, dựng vợ, gả chồng cho con cái đàng hoàng và vào đây ở từ đó đến bây.
Bà Thái tiếp tục nhớ lại: " Hồi năm 1990, ông chủ tịch xã Nguyễn Thế Sơn cho tôi một cái giấy chứng nhận để tôi đi xin công đức". Bắt đầu từ ấy, người dân quanh khu vực thấy bà Thái nay đây, mai đó đi nhiều nơi, nhiều cửa xin công đức.
Ông Nguyễn Hữu Thọ, Hội người cao tuổi xã nhớ lại: "Sau chiến tranh chống Mỹ, Thái miếu dột nát quá nhiều, gỗ trong đền mục nát, cửa gãy, ngói vỡ, bên trong chỉ còn vài pho tượng lăn lóc. Bên ngoài không có hàng rào, trâu bò vào tàn phá. Từ khi có chủ trương của Nhà nước tu sửa lại các di tích văn hóa, địa phương cũng đã đứng ra tu bổ nhưng làm không đến nơi đến chốn. Đến khi bà Thái xuất hiện, bà đã vận động bà con thôn xóm thường xuyên vào cúng lễ, quyên góp mọi người cùng xây dựng lại từ đống đổ nát".
Ngày nay, được chiêm ngưỡng tượng đồng Thái Tổ Lê Lợi, tôn nghiêm ngự trong Long Cung, tượng đồng Lê Lai, Nguyễn Trãi đường bệ đầy oai vũ, quả chuông nặng ba tạ từ đồng đúc năm 1991, mới thấy công lao đóng góp của bà Thái thật to lớn. Tượng vua Lê Thần Tông cùng năm bà vợ từ chỗ sứt sẹo, mắt, bụng thủng trở nên lành lặn, rực rỡ. Các bộ kích, bộ kiệu, lư hương, lục bình, đèn cầy có được cũng là nhờ vào sự tần tảo của bà Thái và tấm lòng của phật tử xa gần.
Những nỗ lực của bà Thái và những người có tâm đức đã được đền đáp. Thái Miếu nhà hậu Lê đã được Nhà nước công nhận di tích cấp quốc gia. Bản thân bà Thái được trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa thông tin năm 2004.
Những ngày cuối tháng 12-2007, Sở VHTT Thanh Hóa đã khởi công công trình thuộc dự án tu bổ, bảo quản thái miếu nhà Hậu Lê. Dự án tu bổ, bảo quản thái miếu nhà Hậu Lê gồm: tu bổ, bảo quản tiền điện và nghi môn; phục hồi tả vu - hữu vu; tu bổ, phục hồi các đồ thờ, đồ tế tự; các hạng mục phụ trợ di tích như cảnh quan, sân, đường, cây xanh...Dự án sẽ được thực hiện đến năm 2010 với tổng kinh phí hơn 41 tỉ đồng.
Ngày nay, dù tuổi cao sức yếu và vẫn cùng tám cộng sự có tâm huyết ngày đêm chăm nom, coi sóc Thái Miếu. Giữa công trường ngổn ngang, gương mặt rạng rỡ, bà Thái tự hào, giơ cao tấm huy chương trước ngực: " 20 năm, tôi đi khắp nơi nhưng chưa thấy một người thủ từ, giữ miếu nào là đàn bà. Tôi tự hào lắm. Ngày đêm tôi chỉ tâm niệm, cầu mong có sức khỏe chờ tới ngày nhìn thấy khu Thái Miếu được khánh thành là tôi nhắm mắt được rồi. Bây giờ Nhà nước đã quan tâm và đầu tư, Thái Miếu là của Nhà nước, quốc gia. Giờ tôi chỉ giúp Nhà nước trông coi đến khi nào nhắm mắt, xuôi tay".