Thách thức trong quản lý, sử dụng tài nguyên nước ở Phú Yên

Rác sinh hoạt thải vào kênh mương - một
trong những nguyên nhân làm ô nhiễm
nguồn nước.
Rác sinh hoạt thải vào kênh mương - một trong những nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước.

Nguồn nước dồi dào nhưng vẫn có nguy cơ thiếu

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, Phú Yên có lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 2.145 mm. Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh có năm con sông tương đối lớn và 21 sông nhánh cấp một, 18 sông nhánh cấp ba với tổng lượng dòng chảy hằng năm tương ứng với lưu lượng nước 429m3/giây, trong đó có sông Ba được xếp là sông lớn thứ chín của cả nước chảy qua địa phận các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Ðác Lắc, Phú Yên với diện tích lưu vực 13.900 km2. Về nước ngầm, Phú Yên có sáu tầng chứa với trữ lượng nước cho phép khai thác khoảng 936.000 m3/ngày. Riêng về nước mặt, có thể bảo đảm nước bình quân cho một người dân khoảng 15.680 m3/năm. Dự báo đến năm 2020, dân số Phú Yên tăng lên hơn 1.025 nghìn người thì mức nước bảo đảm giảm còn 13.170m3/người/năm. Với mức nước bảo đảm nói trên thì Phú Yên thuộc loại cao so với trung bình của cả nước. (Theo chỉ tiêu phân loại của Hội Tài nguyên nước quốc tế, quốc gia thiếu nước khi mức nước bảo đảm dưới 4.000 m3/ người/năm).

Tuy nhiên do Phú Yên nằm ở sườn đông dãy Trường Sơn, đồng bằng trũng liền kề với núi cao, rừng bị tàn phá nặng, mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn vào mùa mưa gây ra lũ lụt hầu hết các vùng dân cư ở hạ lưu. Ngược lại, trong mùa nắng, nước bốc hơi mạnh, khả năng giữ nước của lưu vực kém, sông suối thường cạn kiệt cho nên tình hình thiếu nước sinh hoạt và sản xuất diễn ra ở nhiều vùng núi, vùng ven biển. Ở những vùng này, nước chỉ đạt trên dưới 90% nhu cầu sử dụng, tức là trong từng tháng và từng năm cụ thể vẫn thường xảy ra thiếu nước. Khi nền kinh tế phát triển sẽ gia tăng nhu cầu sử dụng nước do vậy tình trạng thiếu nước sẽ nghiêm trọng hơn, nhất là vào những tháng mùa khô (tháng năm đến tháng bảy) thường có nhu cầu dùng nước tăng gấp đôi, gấp ba những tháng khác thì lúc đó mức nước bảo đảm ở những địa bàn lâu nay vốn đã thiếu nước sẽ chỉ còn đáp ứng 60- 70% nhu cầu trong những năm tới.

Mặt khác, tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng đáng báo động. Dọc sông Ba có nhiều nhà máy chế biến đường, tinh bột sắn, giấy và bột giấy hoạt động. Nếu không quản lý tốt thì nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước sông Ba là điều khó tránh khỏi. Trong khi đó, nước thải sinh hoạt ở hầu hết đô thị, khu dân cư trên địa bàn tỉnh đều xả trực tiếp ra môi trường tự nhiên, xâm nhập vào sông, suối hoặc nguồn nước ngầm. Do đó nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và dẫn đến thiếu nước sinh hoạt có thể trở thành hiện thực.

Những vấn đề cần giải quyết

Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Yên, Chế Bá Hùng cho biết: Lâu nay việc sử dụng nước do nhiều ngành quản lý. Mỗi ngành có quy hoạch sử dụng riêng phục vụ lợi ích của ngành mình mà chưa quan tâm đến lợi ích của ngành khác. Như trên lưu vực sông Ba, có tới 400 hồ chứa, đập dâng, trạm bơm. Phần lớn các công trình thủy lợi đó xây dựng tập trung vùng trung lưu lưu vực sông Ba, lấy trực tiếp dòng chảy cơ bản của sông, nhưng không đủ hồ chứa tạo nguồn ở phía thượng lưu đã làm cạn kiệt nước trong mùa khô của nhiều sông suối. Ðã xảy ra tình trạng một số nhánh sông trên lưu vực sông Ba thường xuyên bị thiếu nước, gây khó khăn cho việc cấp nước sinh hoạt, nước tưới và hạn hán cục bộ tại nhiều khu vực. Có thời điểm đập Ðồng Cam thiếu hụt nước không cung cấp đủ nước tưới cho đồng lúa Tuy Hòa. Trong khi đó, các hồ chứa lớn như hồ thủy điện Sông Hinh, An Khê - Kanak, Sông Ba Hạ... chỉ chứa nước dành cho phát điện, không trữ nước cho yêu cầu phòng lũ, điều hòa dòng chảy cho khu vực hạ du. Cơn bão số 11 năm 2009 gây mưa rất to ở lưu vực đầu nguồn sông Ba, buộc các hồ chứa trên sông Ba phải xả lũ cùng lúc đã làm ngập úng nặng vùng hạ du, gây thiệt hại lớn cho các huyện Sơn Hòa, Tây Hòa, Ðông Hòa, Phú Hòa và TP Tuy Hòa. Vì vậy, cần phải thành lập Ban quản lý lưu vực sông Ba với sự hợp tác của các tỉnh trong khu vực để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ và chia sẻ phân bổ tài nguyên nước cũng như quản lý vận hành thống nhất liên hồ trong phòng, chống lũ lụt.

Toàn tỉnh có bảy nhà máy cấp nước sinh hoạt, mỗi ngày khai thác 35.000 m3 nước; 85 công trình cấp nước sinh hoạt dân cư nông thôn và 250 công trình cấp nước cho trường học, trạm y tế; 14 doanh nghiệp sử dụng nước phục vụ cho công tác khai thác, chế biến khoáng sản và 189 tổ chức, cá nhân có khai thác nước ngầm sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh. Việc khai thác sử dụng tài nguyên nước của các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân quản lý các công trình trên tuy được cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp phép nhưng còn ở dạng giải quyết theo nhu cầu của đơn vị.

Mới đây, UBND tỉnh Phú Yên giao Công ty Cấp thoát nước Phú Yên lập quy hoạch khai thác nước mặt cung cấp cho Khu kinh tế Nam Phú Yên và Khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa), riêng Khu kinh tế nam Phú Yên có nhu cầu 118 nghìn m3/ngày đêm vào năm 2015 và tăng lên 155 nghìn m3/ngày đêm vào năm 2025. Ðiều này cho thấy, nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất công nghiệp ở Phú Yên trong những năm tới là rất lớn, gấp nhiều lần so với nhu cầu sử dụng nước hiện tại nhưng tỉnh chưa có quy hoạch tổng thể cho việc sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.

Do vậy, có thể nói quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên nước đang là yêu cầu đặt ra bức thiết đối với Phú Yên, để từ đó xây dựng chiến lược "an ninh về nước" phát triển bền vững tài nguyên nước nhằm phục vụ sự nghiệp CNH, HÐH, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Nước là nguyên liệu thiết yếu trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt đời sống, song đáng tiếc hiện nay, nhận thức về tài nguyên nước đối với nhiều người vẫn xem là của trời cho, sử dụng một cách tùy tiện, thậm chí xả hóa chất ra nguồn nước. Bên cạnh việc khẩn trương lập quy hoạch sử dụng và xây dựng chiến lược phát triển tài nguyên nước, các cơ quan chức năng của tỉnh cần chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Hiện nay hệ thống pháp luật về tài nguyên nước chưa hoàn chỉnh, chưa có cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích cá nhân và tổ chức tham gia công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước; chưa xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, đặc biệt đề cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc bảo vệ, phát triển nguồn nước. Nước chỉ được sử dụng hiệu quả khi coi nước là tài sản quốc gia, các hoạt động sử dụng nước phải trả tiền. Khi đó, tài nguyên nước chẳng những đem lại nguồn thu đáng kể mà quan trọng hơn nâng cao ý thức bảo vệ, tiết kiệm trong quá trình khai thác, sử dụng nước. Ðây cũng là những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng chính sách để bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, bảo đảm nhu cầu nước, bảo đảm an ninh về nước trong tiến trình đẩy nhanh thời kỳ CNH, HÐH đất nước.

Bài và ảnh: NGUYÊN TRƯỜNG

Có thể bạn quan tâm