Tàu 235 và những người anh hùng bất tử

Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua hai xã Ninh Phước, Ninh Vân thuộc tỉnh Khánh Hòa. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn chục cây số đường biển. Ở nơi đó, cách đây hơn bốn mươi năm, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đã hy sinh cùng con tàu 235...
Cán bộ chiến  sĩ Học viện Hải quân (Nha Trang, Khánh Hòa) thăm di tích tàu 235.                              
Cán bộ chiến  sĩ Học viện Hải quân (Nha Trang, Khánh Hòa) thăm di tích tàu 235.                              

Ðịa thế Hòn Hèo phức tạp, lắm mỏm núi nhô ra biển, nhiều đá ngầm, luồng hẹp. Một tài liệu của Pháp nói rằng, muốn ra vào Hòn Hèo mà không mắc cạn, phải là những tay thuyền trưởng lão luyện, có trên dưới 20 năm tuổi nghề. Vậy mà Phan Vinh đã đưa được tàu vào đó. Vào ban đêm. Nhưng đêm ấy, đêm 29-2-1968, vùng Hòn Hèo sáng trắng ánh đèn dù. Gần chục chiếc tàu chiến của Mỹ và ngụy bao vây phía ngoài, chặn lối tàu ta. Biết bến đã lộ, Phan Vinh thực hiện phương án hai, cho thả hàng xuống Ninh Phước, để đến mò vớt sau. Các kiện hàng được bao gói đặc biệt, lần lượt lăn xuống biển. Xong việc, anh  đưa tàu xuôi xuống Ninh Vân, cách đó độ mười hải lý, nhằm không để lộ vị trí thả vũ khí. Tàu địch lập tức đuổi bám, bắn theo không ngớt. Tàu 235 ở vào tình thế gay go. Phía trước núi chắn. Sau lưng, bảy tàu chiến của địch chặn ngang. Trên trời, máy bay quần lượn, thả pháo sáng, bắn rốc-két. Ý định của chúng là bắt sống tàu ta. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Phan Vinh, tàu 235 vừa vòng tránh, vừa bắn trả. Nhưng tàu địch đông, có ưu thế về hỏa lực, khó cơ động vòng tránh, đồng đội tổn thất đã nhiều, nên Phan Vinh cho tàu dừng lại ở Bãi Giữa. Biết không thể phá vòng vây, Phan Vinh quyết định cho nổ tàu. Anh tổ chức đưa thương binh, liệt sĩ vào bờ. Sau đó, anh ra lệnh điểm hỏa. Khi nhìn thấy đồng đội đã bám được vào chân núi, anh và thượng sĩ thợ máy Ngô Văn Thứ kiểm tra ngòi nổ lần cuối, rồi nhảy xuống biển, bơi vào.

Tiếng nổ dội lên. Một cột lửa bốc cao. Cả vùng Hòn Hèo đỏ rực. Bọn địch bàng hoàng ngơ ngác. Tạp chí Lướt sóng của hải quân ngụy sau đó thú nhận: "...Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam cộng hòa đã đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt cộng gan góc và thiện chiến (thực ra chỉ có hai mươi thủy thủ - tác giả) trên một con tàu lớn chở chiến cụ từ miền bắc thâm nhập tiếp tế cho Mặt trận giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng chục tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại dấu vết trên biển".

Trời đã về chiều, nhưng khi biết ý định của chúng tôi, Chủ tịch xã Ninh Vân Trà Thái Lâm sốt sắng điều xuồng máy và đưa chúng tôi đến vị trí tàu nổ. Chúng tôi nhìn xuống. Lập lờ dưới mặt nước, những khối sắt han gỉ nằm lặng phắc. Ðây là mũi tàu hay khoang máy? Còn dấu tích nào của đồng đội chúng tôi vẫn ẩn chìm dưới đó? Có cái gì cay cay nơi sống mũi, chúng tôi bỏ mũ, lặng im... Lẫn trong tiếng sóng nhẫn nại dè dặt đập vào bờ đá, chúng tôi nghe hình như có cả hơi thở gấp gáp, những tiếng nói đứt nối từ đâu vọng tới. Chiều tà, man mác, se lạnh...

Theo hướng dẫn của anh Lâm, chúng tôi men lên ngọn núi đá và không mấy khó khăn để nhận ra đài chỉ huy của tàu 235 lút chìm giữa gai rậm, cỏ lác. Chính trong khoang thép này, nhiều lần Nguyễn Phan Vinh đã điều khiển con tàu luồn lách qua đá ngầm, qua tuyến phòng thủ của địch chở vũ khí vào chiến trường và cũng trong khoang máy này anh và đồng đội đã giật ngòi nổ để một cột lửa bùng lên giữa biển khơi... Mấy chục năm qua rồi mà những gì đập vào mắt cứ khiến chúng tôi nao lòng. Xác tàu, một nửa văng lên đang rã nát nằm lưng chừng sườn núi Bà Nam này, một nửa biển ngậm dưới kia, còn anh, anh nằm nơi nào, Phan Vinh?... Ngậm ngùi, chúng tôi cùng anh Lâm và bà con Ninh Vân thắp cho các anh và con tàu một nén nhang...

Khi hương đã tàn, ngồi bên xác của nửa con tàu, Chủ tịch xã Ninh Vân kể: "Thời đó, tôi mới tám tuổi, nhưng còn nhớ rõ. Sau khi tàu nổ, có hai người bị dạt vào chân núi này. Một người trong họ đội mũ nồi, mặc áo blu-dông giả da. Bọn địch tung quân lùng bắt ráo riết. Nhưng hai anh đánh trả dữ lắm. Gần sáng, không nghe tiếng súng nổ nữa. Và khi bọn địch mò tới được chỗ hai người, họ đã tắt thở. Hằn học, chúng tưới xăng vào và... châm lửa đốt". Anh Lâm lẳng lặng dẫn chúng tôi tới một phiến đá hơi lõm xuống cách mặt nước chừng ba mươi mét. Thời gian không làm mất dấu tích tội ác của kẻ thù.

Anh Lâm Quang Tuyến và anh Lê Duy Mai - hai trong số năm người của chuyến đi ấy còn sống sót trở về, đã thuật lại: "Tàu 235 chúng tôi có tất cả 21 thủy thủ. Nhưng khi chuẩn bị nhổ neo, Ngô Dầu bị viêm phổi, phải vào viện, nên đội hình còn hai mươi anh em. Tàu do anh Nguyễn Phan Vinh làm thuyền trưởng, anh Nguyễn Tương làm chính trị viên, anh Ðoàn Văn Nhi và anh Vũ Tá Tu làm thuyền phó. Ðêm 29-2-1968, khi vào đến hải phận Khánh Hòa, tàu chúng tôi bị ba tàu chiến mà sau này mới hay rằng đó là tàu Ngọc Hồi, tàu HQ12, tàu HQ617 và bốn tàu khác bao vây. Nó muốn bắt sống tàu ta. Anh Phan Vinh có ý định đưa tàu xuyên vào đội hình tàu địch, phá vòng vây, nhưng rất không may cho chúng tôi là, vào thời điểm ấy, anh Vũ Long An báo cáo rằng, máy đã hỏng nặng. Việc đột kích ra khơi không thành. Lúc này đã là hai giờ ngày mồng một tháng ba. Tàu cách bờ hai trăm mét, anh Vinh phát lệnh cho tử sĩ và thương binh rời tàu. Số còn lại, cài kíp nổ, phá tàu. Lúc đó anh Vinh, anh Thứ đã bị thương nặng, nhưng vẫn chui vào khoang máy đặt giờ nổ...". Ðã bao năm rồi, nhưng tôi vẫn không sao quên được mệnh lệnh cuối cùng của thuyền trưởng Phan Vinh: "Ðánh bộc phá tại tàu!". Ðánh bộc phá tại tàu, đồng nghĩa với hy sinh con tàu bằng lượng thuốc nổ hơn 100 kg mà chúng tôi đã cài sẵn. Nhận lệnh, anh Thứ, anh Long An, anh Hà Minh Thật vội đến các vị trí đã phân công, điểm hỏa. Tôi thốc xuống cầu thang, vào khoang máy và gặp anh Trần Lộc ở đấy. Thấy đầu anh quấn băng trắng, tôi nói: "Anh bị thương, tôi thay anh đánh bộc phá khoang máy sau". Tình hình hết sức hiểm nghèo, nhưng thuyền trưởng Phan Vinh, dẫu lúc đó đã bị thương, vẫn bình tĩnh đi kiểm tra và động viên anh em. Ðến khoang máy sau, anh hỏi:  "Chắc ăn chưa?". Tôi đáp: "Báo cáo, chắc!". Ðèn tín hiệu điểm hỏa bật sáng, chúng tôi rời tàu. Khoảng 2 giờ 30 phút ngày mồng một, tháng ba, một cột lửa bùng lên. Sức công phá của thuốc nổ chặt con tàu ra làm hai, một nửa chìm xuống nước, nửa còn lại văng lên núi. Sau phút bàng hoàng, địch gọi pháo từ biển bắn vào, gọi máy bay trên trời bắn xuống. Rồi cho lính đổ bộ lên bờ. Chúng tôi chia làm hai tốp, tốp một do thuyền trưởng chỉ huy. Anh Vinh, anh Thứ và các anh trong tốp này chỉ có súng AK và lựu đạn, nhưng đánh trả quyết liệt. Ðịch phải tăng viện binh. Trời chưa sáng rõ, lính ngụy, lính nam Triều Tiên từ trực thăng đổ xuống, từ biển mò lên. Chúng rải quân khắp núi Bà Nam. Anh Vinh, anh Thứ và các anh ở tốp đó xoay trở bắn đến viên đạn cuối cùng và tất cả hy sinh... Tốp thứ hai, do thuyền phó Ðoàn Văn Nhi chỉ huy. Tốp này gồm có tôi tức thợ điện Lê Duy Mai; thợ máy Vũ Long An, thủy thủ Hà Minh Thật, Nguyễn Văn Phong, Mai Văn Khung và Lâm Quang Tuyến... Tất cả đều thương tích đầy mình. Ðịch lùng rất dữ, nên anh em chúng tôi dìu nhau, chạy vòng vo khắp vùng núi đá Hòn Hèo. Mười ngày phơi dưới nắng gắt, không lương thực, không nước uống, chúng tôi quắt tóp, kiệt quệ. Ngày thứ mười một, Mai Văn Khung khát nước không chịu nổi, bèn lần xuống núi. Nhưng chờ mãi, chờ mãi, vẫn chẳng thấy về. Chúng tôi cử An và Thật đi tìm, nhưng cũng không biết tin tức gì. Sau này mới hay, Khung đã bị địch bắt. Ngày thứ mười hai, anh Nhi lúc này đã yếu lắm, không có khả năng đi được xa, nói với chúng tôi: "Ðừng vì mình mà loanh quanh ở đây. Hãy tản ra, cố tìm cho được du kích. Mình chờ mọi người ở đây". Tôi nói: "Không, chúng tôi không bỏ anh. Anh em sẽ thay nhau dìu". "Ðừng yếu đuối. Nấn ná là không còn người trở về Ðoàn báo cáo. Thương mình thì hãy đi đi... Mệnh lệnh đấy". Chúng tôi đành gạt nước mắt, chia tay anh. Mấy anh em lại luồn rừng mò mẫm đi. Ði suốt ngày suốt đêm. Có lúc gặp thú dữ, phải ngồi chụm lưng vào nhau, canh chừng. Rồi cũng gặp được người của bến. Việc đầu tiên là đi tìm anh Nhi. Nhưng nơi bìa rừng ấy, nơi thuyền phó Ðoàn Văn Nhi chia tay chúng tôi chỉ còn mảnh áo rách và cuộn băng cá nhân, máu đã nỏ khô. Chúng tôi chia nhau sục từng hốc đá, bụi rậm vẫn không thấy. Sau đó với sự giúp đỡ của du kích, chúng tôi quay lại Ninh Vân tìm xác đồng đội. Chôn cất anh em xong, chúng tôi dìu nhau vượt Trường Sơn trở lại miền bắc. Sáu tháng sau về đến đơn vị...

Hôm sau, chúng tôi sang Ninh Phước. Bác Phạm Kiệm và ông Phạm Duy Y, cựu Chủ tịch xã kể lại rằng, những ngày đó có một thủy thủ bị lạc lên mạn này, trong người còn hai trái lựu đạn. Ban ngày, anh xuống biển, đội nón mê vờ làm người cào hến; tối đến tìm hang đá lẩn tránh. Bọn địch truy lùng rất gắt. Bà con theo dõi từng bước để chở che. Rồi một hôm, anh bị chúng phát hiện. Chúng hò hét đuổi rượt vây bắt. Nhưng biết anh còn vũ khí, không tên nào dám vào gần. Bất lực, chúng bắn như đổ đạn. Anh bị thương vào chân, nhưng vẫn cố lết về hướng núi. Từ đó, không ai nhìn thấy anh nữa. Mười năm sau, bình yên trở lại, bà con Ninh Phước đi phát rẫy, tìm thấy một bộ xương nằm trong bụi rậm, cạnh đấy vẫn còn quả lựu đạn. Nghe chuyện, tôi giật mình tự hỏi, phải chăng đó là thuyền phó Ðoàn Văn Nhi? Bởi theo như lời năm chiến sĩ sống sót trong chuyến ấy trở về kể lại thì hình như anh bị lạc sang hướng bắc. Lại thêm nấm mồ nữa của đồng đội chúng tôi "vô danh", và dẫu thế, đất nước vẫn không quên các anh.

Chúng tôi đến Nghĩa trang Ninh Vân khi mặt trời mới lên được một đoạn. Không ai bảo ai, mọi người cùng tìm đến khu mộ "vô danh". Hơn hai mươi đồng đội của chúng tôi yên nghỉ tại đó. Chúng tôi lặng lẽ đi một vòng, ngó nghiêng, tìm kiếm... Trong số này, đâu là mộ của các chiến sĩ tàu 235 ? Trong số các anh đã ra đi trong Tết Mậu Thân ngày ấy, ai đã được đưa về nằm tại đây và ai còn nằm đâu đó chân núi Bà Nam, sát biển Hòn Hèo?... Tôi đứng lặng, nhìn quanh trời đất!

Có thể bạn quan tâm