Sau 10 năm đầu đổi mới đầy gian khổ nhưng đạt thành tựu vẻ vang, Ðại hội VIII của Ðảng (1996) đã chỉ ra rằng đất nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời chỉ ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 (nghĩa là khoảng 1/4 thể kỷ) nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thực hiện đường lối, chủ trương đó, cùng các Nghị quyết Ðại hội IX, Ðại hội X của Ðảng, chúng ta đang nỗ lực thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tạo được nền tảng cơ bản để 10 năm sau (2011 - 2020) có điều kiện phấn đấu đạt mục tiêu chiến lược như Ðại hội VIII đã đề ra.
Nói công nghiệp hóa không phải là nói một vấn đề cũ kỹ, trái lại, đối với nước ta, trong vòng nửa thế kỷ qua và cả hiện nay vẫn là vấn đề luôn luôn mới, luôn luôn đòi hỏi có nhận thức đúng, có nội dung và cách làm đúng đắn.
Trong lịch sử, các nước phương Tây đã tiến hành công nghiệp hóa cách đây hai trăm năm. Ðó là các cuộc công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, có mục đích, bước đi, cách làm phù hợp với chủ nghĩa tư bản, diễn ra một cách tự phát, nhằm thu lợi nhuận nhanh, nhiều, khẳng định vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa gắn liền với giai cấp tư sản - giai cấp chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, tạo nên chiến thắng hoàn toàn và triệt để của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với mọi phương thức sản xuất trước kia.
Tác dụng khách quan mà công nghiệp hóa đem lại là thay lao động thủ công năng suất thấp từng tồn tại hàng nghìn vạn năm bởi lao động bằng máy. Nhờ máy móc mà khắc phục được những hạn chế của các giác quan và sức lực cơ bắp con người nhằm thích ứng và cải tạo thiên nhiên phục vụ cho đời sống con người. Công nghiệp hóa là một bước ngoặt vĩ đại phát triển lực lượng sản xuất của loài người, tạo điều kiện cải thiện căn bản đời sống chung của xã hội con người.
Nước ta, trong điều kiện làm cách mạng lật đổ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội, thì công nghiệp hóa là một tất yếu, là một sự nghiệp cách mạng vẻ vang, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định thắng lợi của thời kỳ quá độ lịch sử. Vì vậy Ðảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, coi đó là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, là một đường lối, quan điểm cơ bản hết sức đúng đắn, làm cho chủ nghĩa xã hội không chỉ là ước vọng của nhân dân ta mà là một hiện thực đẹp đẽ, có cơ sở bảo đảm về phương diện kinh tế. V.I. Lê-nin đã từng nói, năng suất lao động là cái căn bản tạo nên chiến thắng của một trật tự xã hội mới.
Công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa cũng đã tạo cho chủ nghĩa tư bản một chiến thắng như thế - chiến thắng chế độ phong kiến và mọi nền sản xuất nhỏ. Bây giờ đến lượt chúng ta, cũng chỉ có thể bằng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa để tạo nên chiến thắng sản xuất nhỏ và con đường tư bản chủ nghĩa, mới chứng tỏ được rằng trong điều kiện xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển, nhưng dưới sự lãnh đạo của Ðảng, biết phát huy cao độ nội lực đồng thời hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và khéo léo, tranh thủ sức sản xuất hiện đại của thế giới, thì vẫn có thể phấn đấu đi lên chủ nghĩa xã hội. Ðương nhiên, chúng ta cũng thấu hiểu bên cạnh cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế là quyết định thì còn phải có cả cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng để thiết lập và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trước nay, Ðảng ta vẫn luôn luôn chỉ ra rằng, chúng ta tiến hành công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, tuy rằng có kế thừa kinh nghiệm của quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, nhưng căn bản phải có mục đích, bước đi và cách làm phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội. Mục đích của công nghiệp hóa ở nước ta phải là phát triển sản xuất gắn liền với cải thiện điều kiện lao động và đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Lợi nhuận là cần thiết, song không chạy theo lợi nhuận đơn thuần, càng không xác định nó là mục đích chủ yếu.
Chúng ta không theo "chủ nghĩa duy kinh tế", trái lại từng bước phát triển lực lượng sản xuất phải gắn liền với từng bước có tiến bộ xã hội. Chúng ta phải chú ý từng bước công nghiệp hóa gắn liền với từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất mới này có nhiều mặt, nhưng theo Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng thì phải dựa trên nền tảng dần dần hình thành chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
Thực tiễn cho thấy không thể buông lỏng để kinh tế quốc doanh tự bươn chải, được chăng hay chớ, không thể để kinh tế tập thể yếu ớt, thui chột dần, cũng không nên xếp kinh tế tập thể với kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vào một khối gọi là "kinh tế ngoài quốc doanh" hay "kinh tế dân doanh", trái lại phải coi kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước thành một khối làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân, kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước có sự gần gũi nhau về bản chất. Một mặt, từng bước xây dựng và phát huy cái nền tảng ấy của nền kinh tế quốc dân; mặt khác, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần kinh tế, nỗ lực sử dụng và phát huy hết tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, nhằm giải phóng sức sản xuất, tạo công ăn việc làm, khai thác nguồn nhân lực dồi dào của nước ta, để phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân và đẩy mạnh xuất khẩu.
Thực tiễn sống động của nước ta cũng chỉ rằng, quan hệ sản xuất mới còn là tăng cường quản lý nền kinh tế quốc dân để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, làm cho số người giàu tăng lên, số người nghèo giảm đi, người này giàu lên nhưng không bằng cách làm người khác nghèo đi, trái lại, cả xã hội và từng người đều giàu lên.
Chủ nghĩa tư bản đã từng tước đoạt nông dân để hình thành người vô sản (bắt buộc phải làm thuê), tập trung của cải vào tay những quý tộc đang tư sản hóa, tạo nên cơ sở rộng lớn phát triển công nghiệp nhẹ, thu lợi nhuận nhanh. Ðiều đó là phù hợp với chủ nghĩa tư bản, nhất là trong buổi bình minh của chủ nghĩa tư bản, song lại hoàn toàn trái ngược với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Ðối với nước ta, trải qua mấy chục năm công nghiệp hóa, về mặt chủ trương, Ðảng ta vẫn luôn coi trọng công nghiệp hóa nông nghiệp với ý nghĩa giải phóng sức lao động nông thôn, đưa nông nghiệp lạc hậu lên nông nghiệp hiện đại, phát triển đồng bộ và quan hệ chặt chẽ công - nông nghiệp, cải thiện tích cực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta.
Thậm chí có lúc chúng ta nhận thức công nghiệp hóa nông nghiệp là trọng tâm, là điểm nhấn trước hết của công nghiệp hóa. Ngày nay, đứng trước trình độ phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất thế giới, của khoa học và công nghệ thế giới, một mặt, chúng ta phải rất coi trọng phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm, kỹ thuật số, kỹ thuật mạng... mặt khác, vẫn không được quên công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục tinh thần các Ðại hội VIII, Ðại hội IX, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 được Ðại hội X thông qua đã chỉ ra yêu cầu "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân".
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải nhằm hình thành dần cơ cấu kinh tế hợp lý của nước ta, cải thiện điều kiện lao động và đời sống của đa số dân cư nước ta, tiến hành phân công lại lao động, thay đổi dần cơ cấu dân cư từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn còn là nâng cao vai trò, vị thế của giai cấp nông dân và bồi dưỡng sức dân trong điều kiện mới. Vì thế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là cơ sở quan trọng của khối liên minh công - nông - trí thức, nền tảng của đại đoàn kết toàn dân.
Chúng ta đã có những cố gắng, những tiến bộ trong thực hiện đường lối, chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, từ chính sách đến quản lý điều hành vẫn chưa đủ mức cần thiết, chưa tương xứng với yêu cầu, cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp còn thấp kém, lao động trong nông nghiệp còn lạc hậu, vất vả, đang có sự phân hóa đáng kể giữa nông thôn và thành thị, ít nhiều tổn thương đến quan hệ liên minh công - nông - trí, nên không thể xem thường.
Quá trình công nghiệp hóa bao giờ cũng gắn liền với xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp. Chủ nghĩa tư bản thường bắt đầu chủ yếu từ công nghiệp nhẹ, sản xuất các hàng hóa tiêu dùng. Ðiều đó rất phù hợp với lợi ích thiết thực của các nhà tư bản, nhất là lúc chủ nghĩa tư bản còn đang non yếu, vì vốn ít, nhưng lại chu chuyển nhanh, tiền công rẻ, lợi nhuận nhiều, do đó thuận lợi cho tích lũy và tích tụ tư bản, giúp các tư bản cá biệt lớn lên nhanh chóng.
Chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ 20 đã khác, lúc này chủ nghĩa tư bản thế giới đã là một hệ thống lớn mạnh, tín dụng thế giới rất phát triển, thì một nước tư bản chủ nghĩa như Hàn Quốc lại có thể có bước đi cả công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng ngay từ đầu, chỉ trong vòng thập niên 60 và thập niên 70 của thế kỷ trước mà đã hoàn thành công nghiệp hóa, trở thành một quốc gia có nền công nghiệp hiện đại, đủ sức sản xuất hàng chục triệu tấn thép, sản xuất nhiều máy móc tiên tiến từ máy cái đến các máy phụ trợ, từ máy công cụ cho đến các máy sản xuất hàng tiêu dùng, theo đó tất yếu đã sản xuất được nhiều hàng tiêu dùng phù hợp thời đại. Không đầy 20 năm mà Hàn Quốc tự trang bị được kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế Hàn Quốc không những tự khẳng định mình mà còn có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngay cả với hàng hóa Mỹ (như mặt hàng ô-tô...).
Các nước xã hội chủ nghĩa thì lại càng khác hẳn, xét về mục đích và điều kiện, thì bước đi, cách làm của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa không giống công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa. Ngay từ đầu, các nước xã hội chủ nghĩa đã có thể huy động sức mạnh của toàn xã hội, của Nhà nước, để tính toán phát triển công nghiệp nặng chứ không chỉ chờ từng tư bản cá biệt tự lớn lên hoặc chờ quá trình tập trung tư bản như trong xã hội tư bản. Các nước xã hội chủ nghĩa luôn có yêu cầu bức xúc về độc lập tự chủ, có sức mạnh về kinh tế và quốc phòng để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, trong khi các lực lượng đế quốc luôn luôn muốn bóp chết các nhà nước xã hội chủ nghĩa non trẻ.
Chính trong điều kiện như vậy của Liên Xô trước đây, Lê-nin đã nhấn mạnh rằng công nghiệp hóa nước nhà là ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lê-nin viết: "Thế mà chính ngành công nghiệp này, gọi là "công nghiệp nặng", lại là cơ sở chủ yếu của chủ nghĩa xã hội. Ðồng thời công nghiệp nặng cũng là cơ sở của khả năng quốc phòng của nước nhà - Không có công nghiệp nặng thì chúng tôi sẽ không thể xây dựng được công nghiệp nào cả, và nếu không có công nghiệp, thì nói chung chúng tôi sẽ diệt vong, không còn là một nước độc lập nữa" (1).
Lê-nin đã đề ra một kế hoạch điện khí hóa Liên Xô, thực chất là tiến hành cuộc cách mạng kỹ thuật, công nghiệp hóa mạnh mẽ đất nước. Thực hiện tư tưởng vĩ đại của Lê-nin, Ðảng cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xô Viết, đứng đầu là Sta-lin, đã tiến hành 2 kế hoạch 5 năm, dốc sức công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (gắn liền với hợp tác hóa nông nghiệp). Chỉ sau 10 năm, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp, ngành điện, thép, chế tạo máy phát triển chưa từng thấy, tự trang bị kỹ thuật khắp các ngành kinh tế quốc dân, sản xuất hàng loạt máy cày, máy bừa, máy gặt đập. Về sau, nền công nghiệp to lớn ấy của Liên Xô đã sản xuất hàng vạn xe tăng, đại bác, hàng ngàn máy bay chiến đấu, hàng trăm chiến hạm, góp phần to lớn tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít thế giới, giải phóng loài người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
Nói đến Trung Quốc, chính nhờ vào coi trọng xây dựng công nghiệp nặng, trước hết là thép và cơ khí chế tạo máy, mà ngày nay Trung Quốc gần như sản xuất được mọi thứ, đã trở thành một cường quốc quân sự và đang trở thành một cường quốc kinh tế. Sau gần 30 năm thực hiện cải cách, mở cửa đời sống của nhân dân Trung Quốc từ tình trạng đói kém, lạc hậu lên trình độ thu nhập bình quân đầu người gần 2.000 USD một năm.
Trong hoàn cảnh, điều kiện của nước ta, Bác Hồ đã sáng suốt chỉ ra rằng, "đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa...
Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội" (2).
Chúng ta hiểu nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đó chính là một hệ thống công nghiệp nặng, chẳng những có khả năng đưa nông nghiệp mà còn dẫn dắt cả hệ thống các ngành công nghiệp lên trình độ tiên tiến. Bác Hồ đã nói "Nhiệm vụ công nghiệp nặng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Ðể nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân, để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng. Một ví dụ: Quan trọng nhất trong đời sống của nhân dân là vấn đề ăn. Ðể giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thực phải dồi dào. Muốn như vậy thì công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp có nhiều máy làm thủy lợi, máy cày, máy bừa, nhiều phân hóa học, v.v... Công nghiệp nặng cũng phải cung cấp đủ máy móc các loại cho công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp phát triển nhanh chóng" (3).
Nói công nghiệp nặng là chúng ta thường nói tới công nghiệp điện lực, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim (trong đó trước hết là sắt thép), công nghiệp cơ khí (còn gọi là công nghiệp chế tạo máy, trước hết là máy công cụ hay máy cái để sản xuất ra máy, có máy dùng để sản xuất tư liệu sản xuất, có máy dùng để sản xuất tư liệu sinh hoạt), công nghiệp vật liệu xây dựng trình độ cao, công nghiệp hóa chất cơ bản, v.v... Hiểu như vậy thì công nghiệp nặng là nền tảng của công nghiệp, nông nghiệp - hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, và sau nữa phải kể đến vai trò của dịch vụ. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng vốn là quy luật tái sản xuất mở rộng của nền sản xuất lớn mà C.Mác đã phát hiện ra.
Theo quy luật này thì sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất phát triển nhanh nhất, rồi đến chế tạo tư liệu sản xuất, và sau cùng là sản xuất tư liệu sinh hoạt. Dĩ nhiên, tất cả, cuối cùng là nhằm vào khối lượng của cải tiêu dùng rộng lớn, chất lượng ngày càng cao để phục vụ đời sống của con người. Một khi bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan thì cũng tất yếu khách quan đòi hỏi vận dụng quy luật đó, hơn nữa dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lại có điều kiện, khả năng vận dụng quy luật đó ngay từ đầu.
Từ Ðại hội IV của Ðảng (12-1976), chúng ta đã sớm vận dụng quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất để giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp nặng với nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, thu được một số thành tựu quan trọng. Một số công trình công nghiệp nặng được xây dựng hồi đó đã phát huy tác dụng hàng chục năm nay và ngày nay vẫn đang phát huy tác dụng tốt đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống của nhân dân ta, như thủy điện Hòa Bình, Trị An, dầu khí Vũng Tàu, xi-măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn và một số nhà máy cơ khí, luyện kim cỡ vừa, cỡ nhỏ...
Lúc bấy giờ, một mặt, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ rất bức xúc trong khi các thế lực thù địch tiến hành bao vây cấm vận, mặt khác, lại có thể dựa vào nền tảng vật chất kỹ thuật to lớn của Liên Xô, Trung Quốc,... cho nên ta quan tâm nhiều đến xây dựng công nghiệp nặng là cần thiết. Tuy nhiên, do chủ quan nóng vội, nhận thức và vận dụng chưa thật tốt quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất trong điều kiện nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, không tính toán kỹ tình trạng đất nước bị 20 năm chiến tranh tàn phá khốc liệt, đời sống nhân dân quá thiếu thốn, căng thẳng, cho nên trong đầu tư đã có phần thiên về công nghiệp nặng, coi trọng không đủ mức công nghiệp hàng tiêu dùng và nông nghiệp, tiền vốn đã ít, nước còn nghèo mà lại đầu tư dàn trải.
Hơn nữa, cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, tuy rằng tất yếu và phát huy tác dụng to lớn trong nhiều năm, động viên "đồng cam cộng khổ, dốc sức kháng chiến thắng lợi", song đã quá kéo dài khi không còn phát huy tác dụng, đã làm yếu đi động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Những thiếu sót ấy, làm cho những mong muốn cải thiện nhanh đời sống nhân dân đã không đạt được, trái lại trên thực tế vẫn tiếp tục khó khăn kéo dài và có phần nghiêm trọng. Nhìn thẳng vào sự thật, Ðại hội V của Ðảng (3-1982) đã có điều chỉnh bước đi của công nghiệp hóa, nhấn mạnh nước ta còn ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, cần tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chăm lo đủ lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng, nhằm ổn định đời sống nhân dân, ổn định xã hội. Kế thừa tinh thần Ðại hội V, nêu cao ý thức nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Ðại hội VI của Ðảng (12-1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, theo đó trên lĩnh vực kinh tế đã nhấn mạnh tập trung vào ba chương trình: sản xuất lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất hàng xuất khẩu, coi đó là nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên, là những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Từ đó kéo dài khoảng 10 năm, chúng ta ít nói tới công nghiệp hóa, trên thực tế sự lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đã tập trung vào ba chương trình kinh tế đó, nhằm đưa đất nước thoát khỏi khó khăn.
Với kết quả tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, giải quyết không những đủ lương thực mà còn xuất khẩu nữa, bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, đời sống nhân dân được ổn định và cải thiện rõ rệt, Ðại hội VIII của Ðảng (6-1996) đánh giá đất nước đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, kết thúc chặng đầu thời kỳ quá độ, đã tạo được những tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa. Ðại hội VIII chỉ rõ từ đây đất nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Bắt đầu từ Ðại hội VIII chúng ta nói công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa cho phù hợp với thời đại cách mạng khoa học và công nghệ đang tiến như vũ bão. Và, trong điều kiện mới, khi khoa học và công nghệ có những thay đổi phi thường hàng ngày hàng giờ, khi phát sinh xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, khi hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan thì chúng ta có những cơ hội mới xen lẫn với cả những thách thức mới, đều to lớn chưa từng thấy.
Trong bối cảnh ấy, tận dụng lợi thế của nước đi sau, chúng ta có thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn thời gian, tranh thủ những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất, đồng thời cũng phải luôn luôn tự cảnh báo về khả năng biến thành bãi thải công nghiệp và lệ thuộc vào nước ngoài. Ở đây, lãnh đạo và tổ chức thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có một trình độ kinh tế chính trị sâu sắc, bảo đảm kinh tế bao giờ cũng là cơ sở của chính trị, chính trị là thượng tầng kiến trúc vừa phản ánh kinh tế lại vừa chi phối, hướng dẫn kinh tế, để cuối cùng vẫn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Không thể phủ nhận một thành tựu hiển nhiên của 20 năm đổi mới là công nghiệp nước nhà có bước phát triển mạnh mẽ, chiếm hơn 40% GDP, nông nghiệp chỉ còn chiếm 20% GDP, lao động trong nông nghiệp chỉ còn khoảng 60% tổng lao động xã hội. Tuy nhiên, cần nghiêm khắc nhận ra rằng tỷ trọng công nghiệp gia công còn lớn, phần lớn thiết bị, máy móc, nguyên liệu phải nhập từ bên ngoài, công nghiệp phụ trợ lại yếu kém nên giá trị gia tăng trong công nghiệp còn thấp và thiếu bền vững. Ðiện lực tăng lên, nhưng sản xuất thép thì quá nhỏ bé so với nhu cầu, những hóa chất cơ bản thì cơ bản là nhập khẩu, ngành cơ khí sa sút nghiêm trọng.
Hàng tiêu dùng nước ta hiện nay rất phong phú, nhưng yếu tố nước ngoài chiếm phần chủ yếu. Lao động trong nông nghiệp nước ta còn vất vả, nặng nhọc, gần như cơ bản vẫn dẫm chân tại chỗ ở trình độ thủ công. Chúng ta cũng có những lo lắng chính đáng về công nghiệp quốc phòng, làm sao cho luôn luôn tương xứng với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Cần suy ngẫm, nâng tầm tư duy về đường lối, quan điểm trong phát triển công nghiệp, trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.
Trong các Báo cáo chính trị, các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 10 năm cũng như 5 năm, thì các Ðại hội IX, Ðại hội X của Ðảng đã quan tâm đến xây dựng và phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phần mềm, nhìn nhận kinh tế tri thức là xu thế mới của đời sống kinh tế thế giới. Báo cáo Chính trị tại Ðại hội IX đã đề cập đến một vấn đề cốt lõi của công nghiệp hóa, đó là "Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng". Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Ðại hội X thì ghi "Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp quốc phòng, góp phần xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát triển công nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn". Ðó đều là những phương hướng tốt, tuy nhiên thực tiễn đang chỉ ra rằng cần phải nhận thức tốt hơn nữa, điều hành tốt hơn nữa để thể hiện vai trò quyết định của sản xuất tư liệu sản xuất, trước hết là phải quan tâm xây dựng và phát triển ngành cơ khí (cơ khí nặng, cơ khí chính xác, cơ điện tử, ngành luyện kim, hóa chất... ), đồng thời quan tâm đến phát triển công nghệ thông tin (công nghệ phần mềm...), kỹ thuật số, kỹ thuật mạng... để trang bị cho nền kinh tế quốc dân và quốc phòng.
Tình hình hiện nay: máy cho sản xuất, máy cho tiêu dùng, máy lớn, máy nhỏ đều phụ thuộc vào nước ngoài, hằng năm phải nhập hàng tỷ đô-la, đây là cái yếu cơ bản của nền kinh tế. Cho nên, sắp tới phải tập trung sức khắc phục yếu kém đó và đấy cũng là thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh: "Một nước độc lập, ắt phải có công nghiệp nặng" (Hồ Chí Minh toàn tập, quyển 7, trang 208). Làm được như vậy là chúng ta vừa bảo đảm phát triển nền kinh tế quốc dân, vừa bảo đảm độc lập tự chủ vừa có cơ sở nâng cao căn bản và vững chắc đời sống nhân dân.
Xét theo góc độ lợi ích của xã hội thì con đường phát triển công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa ở nước ta, về thực chất là đụng chạm tới quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Nếu chỉ nhằm lợi ích trước mắt, tiêu dùng quá mức nền kinh tế cho phép, thậm chí biến thành một "xã hội tiêu dùng", thì đó là một xã hội không còn triển vọng tương lai, mất cả kinh tế mất cả văn hóa, sớm muộn cũng mất độc lập tự chủ, tự đánh mất mình. Còn lãng phí, thì phải lên án đó là tội ác (lãng phí tài nguyên, lãng phí thời gian, lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng...), vì nó tốn tiền của một cách vô ích, chẳng nhằm vào tiêu dùng cá nhân và cũng chẳng nhằm vào tiêu dùng sản xuất.
Ngược lại, nếu chỉ nhằm lợi ích lâu dài, tích lũy quá cao, không chú ý tới đời sống trước mắt của nhân dân, thì sẽ mất động lực phát triển kinh tế, thậm chí mất cả nguồn để tích lũy. Còn tham nhũng, bòn rút ngân sách Nhà nước, là chống lại cả tích lũy và tiêu dùng của nhân dân, rút cuộc chống lại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tóm lại, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, đấu tranh có hiệu quả với các lực cản của cả tích lũy và tiêu dùng, là một cơ sở quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Nông nghiệp tuy có vai trò to lớn, đặc biệt tạo ra đủ lương thực là một tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, nhưng vẫn không thể là nguồn tích lũy chủ yếu. Kinh nghiệm thế giới cho thấy một khi đã có công nghiệp nặng thì nguồn tích lũy chủ yếu cho công nghiệp hóa chính là bản thân công nghiệp, mà trước hết và to lớn hơn hết lại là từ công nghiệp nặng. Chính công nghiệp nặng cung cấp các thiết bị, công cụ, tạo điều kiện cho lao động và nâng cao năng suất lao động khắp các ngành kinh tế quốc dân, từ sản xuất đến dịch vụ, từ đó tạo nên lợi nhuận - nguồn của mọi tích lũy. Trong điều kiện ngày nay, khi "công nghiệp phần mềm", "kỹ thuật số", "kỹ thuật mạng"... đóng vai trò quan trọng, kể cả trong đời sống hằng ngày và tích lũy cho phát triển tương lai thì công nghiệp nặng cũng tạo ra "phần cứng" để chuyển tải "phần mềm" và "số hóa" đó. Nói cách khách, chính công nghiệp nặng là nguồn sâu xa tạo ra tích lũy của toàn xã hội, cái lãi của công nghiệp nặng phải được tính theo hiệu quả kinh tế toàn xã hội. Ngoài ra, bản thân công nghiệp nặng cũng trực tiếp tạo ra tích lũy.
Ở nước ta, từ hàng chục năm nay, nhất là trong vài năm gần đây cũng cho thấy một số các ngành như dầu khí... không những là nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, mà theo đó còn là những nguồn tích lũy quan trọng nhất để công nghiệp hóa nước nhà. Dĩ nhiên, không thể xem nhẹ vai trò của công nghiệp nhẹ và nông, lâm ngư nghiệp cũng như dịch vụ trong vấn đề này. Những mặt hàng được phát triển đúng tiềm năng và lợi thế cũng có thể đóng góp to lớn cho nguồn tích lũy, chẳng hạn trong mấy năm nay các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giày, giấy, chế biến nông lâm thủy sản, dịch vụ, du lịch... vẫn có những đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và theo đó cho tích lũy quốc gia, song tác dụng quan trọng nhất của nó phải kể đến tạo được nhiều việc làm cho người lao động.
Nhà nước đóng vai trò quyết định tổ chức tích lũy và định hướng sử dụng tích lũy cho đầu tư phát triển có hiệu quả nhất. Một mặt, Nhà nước phải thực hiện cả việc thu ngân sách và phân phối chi ngân sách thật tốt. Nguồn thu ngân sách phát triển bao giờ cũng là cơ sở để phát triển chi ngân sách, tăng khả năng tích lũy của Nhà nước dành cho đầu tư phát triển. Chi ngân sách tốt là phải quán triệt đường lối chính trị và kinh tế của Ðảng và Nhà nước, góp phần tích cực phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Mặt khác, Nhà nước giữa vai trò quyết định trong khuyến khích, định hướng cho các doanh nghiệp và dân cư trong việc phân phối tổng sản phẩm làm ra, cân bằng quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, chú ý tiết kiệm tiêu dùng để đầu tư cho phát triển. Trải qua 20 năm đổi mới, xuất phát từ chỗ chưa có tích lũy, ngày nay chúng ta đã nâng mức tích lũy cho đầu từ phát triển của toàn xã hội lên 31% GDP. Ðây chính là một nguồn lực chủ yếu và quan trọng nhất để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.
Tiết kiệm vốn là một quy luật kinh tế - quy luật số 1 của sản xuất xã hội như Mác nói. Ðối với nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa thì tiết kiệm càng là quy luật thép. Tiết kiệm phải là một quốc sách hàng đầu để đầu tư cho phát triển kinh tế. Phải tiết kiệm trong sản xuất và tiết kiệm trong tiêu dùng, tiết kiệm sức người, sức của, đặc biệt sử dụng đất đai tài nguyên (một loại tư liệu sản xuất quý giá nhất nhưng lại không thể sinh sôi, nảy nở), một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất như ông cha ta vẫn thường nói "tấc đất tấc vàng". Người người tiết kiệm, nhà nhà tiết kiệm, cả nước tiết kiệm, vì hôm nay và một tương lai bền vững.
Phải tính toán kỹ, thực hành tiết kiệm trong từng chuyến thăm nước ngoài, trong từng dự án, từng công trình, tránh những công trình (kể cả đề tài nghiên cứu khoa học) có tính hình thức, kém hiệu quả thiết thực. Phải tránh tệ phô trương hình thức, tốn kém nhiều tiền của mà hiệu quả thấp trong nhiều hội nghị, nhiều kỳ họp, nhiều lễ hội... Cần phát động một phong trào thi đua yêu nước rộng lớn: cần kiệm để công nghiệp hóa, xây dựng nước nhà, mưu cầu hạnh phúc cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, làm cho công nghiệp hóa là một sự nghiệp cách mạng.
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nó đòi hỏi đường lối quan điểm và cả bước đi, cách làm đúng đắn. Thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ quyết định thắng lợi của thời kỳ quá độ. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vừa mang tính nhân dân vừa mang tính Ðảng sâu sắc, là một sự nghiệp cách mạng rất vẻ vang của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta.
--------
(1) V.I Lê-nin Toàn tập. Tập 45. Lời tựa, trang 18, 19
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 10, trang 13
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 11, trang 352