NDĐT - Quốc hội sáng nay 16-11 tiếp tục cho ý kiến dự án Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đa số ĐBQH tán thành việc xây dựng một Ngân hàng Trung ương hiện đại có tính tự chủ và tính độc lập cao trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là mục tiêu lâu dài trong nhiều năm tới.
Các ĐBQH đồng tình với sự cần thiết phải sửa đổi Luật NHNN, vì sau hơn 10 năm thực hiện, Luật NHNN không còn phù hợp với tình hình thực tiễn, như “NHNN chưa được trao quyền tự chủ cần thiết để chủ động và linh hoạt trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ”; chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật….
Ủy ban kinh tế (UBKT) của QH đồng ý quan điểm vẫn giữ mục tiêu của CSTT là “ổn định giá trị đồng tiền”, mà không thay bằng “ổn định giá cả”. Theo UBKT, nếu ổn định được giá trị đồng tiền thì cũng có nghĩa bảo đảm giá cả ổn định và giữ lạm phát ở mức hợp lý.
Phân rõ “vai” để tăng trách nhiệm và hiệu quả
Để phân định rõ chức năng của QH, Chính phủ và NHNN trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, UBKT đề nghị thiết kế lại dự thảo luật theo hướng “QH quyết định chỉ tiêu lạm phát hằng năm”. Chính phủ trình QH chỉ tiêu lạm phát hằng năm, Chính phủ quyết định các chỉ tiêu liên quan để đạt chỉ tiêu lạm phát mà QH đã quyết định. NHNN đề xuất trình Chính phủ quy định: khung lãi suất, khung tỷ giá, tổng phương tiện thanh toán; quyết định mức lãi suất, tỷ giá cụ thể cho từng thời kỳ và chủ động sử dụng các công cụ CSTT khác (dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở,…). Để bảo đảm cho QH thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát về CSTT, UBKT đề nghị bổ sung quy định làm rõ về chức năng và thẩm quyền của QH, Ủy ban thường vụ QH. Theo đó, Ủy ban thường vụ QH sẽ quyết định việc sử dụng Dự trữ ngoại hối Nhà nước cho các nhu cầu đột xuất, cấp bách của Nhà nước.
Kiểm soát lãi suất để ổn định tiền tệ
Về lãi suất, UBKT cho rằng, trong bối cảnh thị trường tiền tệ, ngân hàng đã phát triển khá mạnh cả về quy mô và số lượng, các TCTD cần được quyền và có trách nhiệm trong việc xác định lãi suất trong giao dịch với khách hàng dựa trên nguyên tắc thị trường và lãi suất điều hành do NHNN công bố. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu, rộng và rút kinh nghiệm từ bài học của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới vừa qua thì Nhà nước phải quản lý và kiểm soát được lãi suất của các TCTD, nhằm tạo sự ổn định cho hoạt động tiền tệ, tín dụng nói riêng và ổn định kinh tế nói chung. Do vậy, UBKT tán thành việc cho phép NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất của các TCTD khi cần thiết, đồng thời không quy định về lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật.
Để thực hiện CSTT có hiệu quả và tạo phản ứng linh hoạt trước những biến động trong hệ thống ngân hàng, UBKT đồng tình với quan điểm trao chức năng giám sát hoạt động của các TCTD cho NHNN. Còn đối với việc giám sát các đối tượng khác như công ty chứng khoán, bảo hiểm do các NHTM thành lập hoặc giữ cổ phần chi phối sẽ do các cơ quan khác như Ủy ban Chứng khoán, Bộ Tài chính thực hiện.
Đồng tình với việc phải quản lý thống nhất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước vì có ảnh hưởng đến việc thực hiện CSTT nhưng UBKT đề nghị cân nhắc, nên chỉ tập trung quản lý khoản tiền gửi này tại NHNN, trong trường hợp trên địa bàn không có chi nhánh NHNN, thì NHNN giao cho NHTM thực hiện đại lý ủy thác thu hộ, chi hộ.
Tập trung làm chính sách, không kinh doanh
Về góp vốn thành lập doanh nghiệp khác, UBKT cho rằng không cần thiết và không nên cho phép NHNN góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác (ngoại trừ Nhà máy in tiền quốc gia) để NHNN tập trung cho công tác điều hành CSTT, nâng cao hiệu quả của một Ngân hàng Trung ương.
UBKT cũng cho rằng, đi liền với việc trao quyền tự chủ về thẩm quyền, tổ chức và tài chính thì đòi hỏi phải có những yêu cầu minh bạch thông tin, tăng trách nhiệm giải trình để bảo đảm sự giám sát chặt chẽ của QH và có tính định hướng chính sách đối với thị trường. Đây là một nguyên tắc chung trong Luật về Ngân hàng trung ương của các nước. UBKT đề nghị: thiết kế một số điều quy định rõ ràng việc báo cáo, cung cấp thông tin theo ba cấp độ: đối với công chúng, Chính phủ và QH.