Tản mạn về ngày giỗ tổ Hùng Vương

Tản mạn về ngày giỗ tổ Hùng Vương

Thật ra đây là một quyết định có cơ sở lịch sử từ lâu.

Ngay trước ngày Toàn quốc kháng chiến, ngày 18-12-1946, Chính phủ Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 22 "Ấn định những ngày Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và tôn giáo", trong đó có ghi rõ ngày "Kỷ niệm Hùng Vương" nói trên, có "số ngày nghỉ là: Một ngày", bên cạnh những ngày kỷ niệm lịch sử khác như: Hai Bà Trưng (5 tháng 12 âm lịch), Lễ Lao động (1 tháng 5), ngày Việt Nam độc lập (2 tháng 9), v.v.

Cũng trong sắc lệnh này, Chính phủ còn quy định những ngày nghỉ thuộc "lễ tôn giáo" trong đó dành ba ngày nghỉ cho các ngày lễ của Phật giáo (ngày sinh Ðức Phật Thích Ca; Lễ Ðức Phật thành đạo...). Với Ki-tô giáo (văn bản gọi là Gia-tô giáo) cũng vậy: Có ba ngày nghỉ dành cho Lễ Phục sinh (Pâques), Thiên Chúa giáng sinh (Noel) và Lễ các Thánh (Tousaint).

Cũng cần nói thêm rằng, trong Sắc lệnh nói trên, ngay ở Ðiều thứ nhất còn ghi những dòng chữ sau đây: "Trong những ngày lễ ấy, các công sở trong Toàn quốc sẽ đóng cửa, và sẽ cử nhân viên phụ trách công việc thường trực".

Ðiều kiện lịch sử ngày nay đã hoàn toàn khác so với hoàn cảnh đất nước ta thời kỳ 1945 - 1946. Nhưng rõ ràng ở đây vẫn có "cái gì đó" thuộc kinh nghiệm quản lý, điều hành Ðất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục phải suy ngẫm, học hỏi.

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương có liên hệ trực tiếp đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vốn có truyền thống lâu đời ở nước ta.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nói rộng ra là hệ thống tín ngưỡng - tôn giáo bản địa của nước ta nói chung gồm ba bộ phận. Thứ nhất, tế tự tại gia đình; Thứ hai, tế tự tại làng xóm (chủ yếu là tín ngưỡng thờ Thành hoàng) và Thứ ba, tế tự quốc gia, tiêu biểu là Tế đàn Nam Giao).

Trong hệ thống ấy, người Việt luôn coi thờ cúng tổ tiên là quan trọng bậc nhất. Cái độc đáo là ở chỗ, triết lý Việt luôn luôn dành chỗ cho sự mở rộng sự liên kết huyết thống - tôn thờ công đức của cha ông, tộc họ, những người đã khuất cùng huyết thống - đến những liên kết có tính quốc gia, nghĩa là đồng thời tôn thờ tất cả những người có công với nước, với xóm làng, những anh hùng dân tộc, anh hùng văn hóa...

Cũng trong hệ thống ấy, với người dân Việt Nam ta tự bao đời nay, ý nghĩa của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương trước hết là ý nghĩa về nguồn cội dân tộc:

  ..." Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba
   Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm".

Các Vua Hùng và nhà nước Văn Lang dù được tái hiện trong ký ức chúng ta cả bằng huyền thoại (có quốc gia, dân tộc nào khi dựng lại bộ sử cho mình không sử dụng những huyền tích, huyền thoại?), nhưng đã được khẳng định là có thực trong lịch sử dân tộc. Ðó cũng là thời kỳ hình thành Nhà nước sơ khai, nền Văn minh buổi đầu của Ðại Việt với ý thức cộng đồng xoay quanh tục thờ cúng tổ tiên, biết ơn "Các Vua Hùng đã có công dựng nước" như Bác Hồ đã nói với cán bộ chiến sĩ của Ðại đoàn quân tiên phong (Sư đoàn 308) ngày 18-9-1954, ngay tại Ðền Hùng (Phú Thọ) trên đường về tiếp quản Thủ đô, và cả với các vị anh hùng tiên khởi có công dựng nước, cứu nước như Phù Ðổng Thiên Vương (đời Hùng Vương thứ 6)...

Các nhà nước phong kiến Việt Nam luôn có ý thức duy trì và phát triển các hội làng, nghi thức thờ Thành hoàng cho đến tục thờ các Vua Hùng, xem đó như "bản sắc dân tộc" phải gìn giữ, dù rằng, ý thức hệ phong kiến buộc triều đình phải thực thi các lễ thức Khổng giáo.

Từ đó, nhất là các dịp ngày xuân, từ nam chí bắc, làng quê Việt Nam đâu đâu cũng tràn ngập không khí, niềm thôi thúc trở về nguồn cội trong "hồn thiêng dân tộc"...

Ðặc điểm này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phân tích rất sâu sắc trong một văn kiện chính trị nổi tiếng của mình viết năm 1924 ở Mát-xcơ-va: "Việc cúng bái tổ tiên (ở Việt Nam - tác giả chú) hoàn toàn là một hiện tượng xã hội".

Tại trung tâm của nơi "Cội nguồn dân tộc", Ðất Tổ Hùng Vương   của   Nhà   nước  Văn Lang vào thời Lý - Trần  đã hình thành khu "Ðền Hùng" với nhiều ngôi miếu cổ bằng đá. Sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh, thời Lê sơ (cuối thế kỷ 15) đã hình thành "Lễ hội Ðền Hùng". Những thế kỷ tiếp theo, đặc biệt dưới triều Tự Ðức, Ðền Hùng được trùng tu, mở rộng đền chính, xây thêm cổng tam quan, khiến lễ hội Ðền Hùng "có tính toàn quốc" hơn. Tự Ðức muốn sửa lỗi của vua Minh Mạng tiền nhiệm, người đã chủ trương giảm quy mô lễ hội Ðền Hùng, chuyển bài vị về miếu thờ ở kinh đô Huế.

Các cuộc trùng tu, tu sửa từ nhà Ðại Bái đến Ðền Giếng, xây lăng Hùng Vương của vua Duy Tân và Khải Ðịnh tiếp theo đã khẳng định thêm vị thế của Ðền Hùng.

Ðặc biệt, sau sự kiện Bác Hồ về thăm Ðền Hùng ngày 18-9-1954 nói trên, Chính phủ ta đã tiến hành nhiều đợt trùng tu lớn: dựng bia lưu niệm Lời nói của Bác đặt trang trọng ở nhà Ðại Bái (1956), xây thêm nhà Công quán và hệ thống bậc cấp xuống Ðền Giếng (1962). Từ 1986 - 1993, Bộ Văn hóa cho xây thêm Nhà bảo tàng Ðền Hùng phía sau khu Công quán...

Ngày nay, Ðền Hùng uy nghi, đĩnh đạc tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc địa phận Phong Châu, Phú Thọ. Là vùng Ðất Tổ, nơi đây có đến hơn 700 năm nơi thờ tự các Vua Hùng, các tướng lĩnh thời Vua Hùng cho đến các anh hùng văn hóa Tản Viên, các di tích Hai Bà Trưng đầu Bắc thuộc. Riêng nơi thờ Lạc Long Quân - Âu Cơ, các Vua Hùng và Lạc hầu lạc tướng đã có đến 600 đình, miếu, đền thờ lớn nhỏ ở các huyện thuộc hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Ðền thờ các Vua Hùng ở Nam Bộ dĩ nhiên xuất hiện muộn hơn nhiều so với các địa phương ở Bắc Bộ và cả Trung Bộ.

Thư tịch thời các Chúa Nguyễn chưa thấy nói đến việc thờ phụng các Vua Hùng ở Ðàng Trong.

Nhưng với người dân Nam Bộ, kể từ những ngày đầu "đi mở cõi", những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, trong đó có tục thờ cúng các Vua Hùng và các lễ hội cổ truyền vẫn được lưu giữ.

Giáo sư âm nhạc nổi tiếng Trần Văn Khê người đã thành danh với vị thế Việt kiều ở Pháp có kể rằng, năm 1942, ông được tham gia Lễ hội Ðền Hùng do Tổng hội sinh viên Hà Nội bấy giờ tổ chức. Ông viết: "Ðoàn sinh viên đến huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ. Tôi hồi hộp như mấy lúc về làng đi viếng mộ của nội Tổ, ngoại Tổ của tôi...

Ði từ Ðền Hạ qua Ðền Trung đến Ðền Thượng, tưởng tượng đến nước Văn Lang, những huyền thoại xưa trở về rất rõ trong tôi, chẳng biết xúc động của người Phật tử ra sao khi đến đất Phật, người Công giáo khi đến Jerusalam, người Hồi giáo khi đến Mecca. Ðối với tôi, lần đi Hội Ðền Hùng năm 1942 đã đánh dấu rất đậm vào đời tôi".

Phải chăng vì tất cả những điều đó, năm 1946, Chính phủ Hồ Chí Minh, lần đầu tiên định vị Ngày Giỗ Tổ là ngày lễ Quốc gia, ngày đó được coi là ngày để con dân nước Việt được nghỉ ngơi, dọn mình, dành tâm linh tình cảm cho các Vua Hùng, những vị vua "hiện thực" và "văn hóa", mở đầu cơ nghiệp dựng nước.

Và hôm nay, sau bao biến thiên của lịch sử, một quyết định "có tính quốc gia" lại được tái lập và lần này nó sẽ được thực thi chắc chắn và in đậm thêm dòng chữ đỏ trên tờ lịch mọi công sở, mọi ngôi nhà người dân Việt Nam.

Chắc không có mấy quốc gia trên đời này dành cho ngày Quốc tổ cơ hội như vậy, kể cả những nước xác định được "ngày Quốc tổ".

Có thể bạn quan tâm