* "Rất có khả năng họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đã mua phải mầu giả!"
Sáng 29-12, Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam đã tổ chức buổi họp báo cáo về việc đưa hai bức tranh sơn dầu Bình văn của họa sĩ Lê Văn Miến (1 trong 2 bức sơn dầu cổ nhất tại Bảo tàng Mỹ thuật có tuổi hơn 100 năm) và Tan ca, mời chị em thi thợ giỏi của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung (giám đốc đầu tiên của Bảo tàng Mỹ thuật) sang Đức. Bức tranh Tan ca, mời chị em thi thợ giỏi được phục hồi nguyên trạng khá mỹ mãn.
Năm 1972, là năm mà các họa sĩ được vận động sáng tác về đề tài công nghiệp. Hưởng ứng đề tài này, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đi thực tế và lấy tư liệu ở Nhà máy dệt 8/3, nhưng tới tận năm 1976 ông mới hoàn thành bức tranh. Thời đó vật liệu tốt rất ít, họa sĩ đã phải vẽ trộn lẫn nhiều loại sơn dầu khác nhau (điều này khi "khám bệnh" cho tranh bằng thiết bị điện tử, người ta đã phát hiện ra rất tường tận).
Tuy đây là một bức "tranh đề tài", nhưng bằng tài năng của một trong những họa sĩ mỹ thuật Đông Dương hàng đầu, tác giả đã "vĩnh cửu hóa" một hình ảnh rất đẹp của người lao động. Và không chỉ dừng ở đó, ông còn lồng những thủ pháp tạo hình vừa rất dân gian, vừa khá hiện đại vào chủ nghĩa hiện thực XHCN vốn rất "khắt khe" thời đó.
Đích thân giáo sư trưởng khoa phục chế của Trường mỹ thuật Dresden đã hướng dẫn quá trình phục chế bức tranh trên cho các họa sĩ Việt Nam. Khi chưa phục chế, mặt tranh bị chùng, các mảng mầu vỡ rạn ra như đất hạn, bị bong rộp rất nhiều chỗ; gỉ sắt từ đinh đóng căng toan gỉ loang ra làm đứt vải mép tranh.
Sau khi được "khám bệnh" bằng các máy móc hiện đại nhất (máy chụp hồng ngoại, máy chụp cắt lớp), đã chỉ ra rằng họa sĩ vẽ tới ba lớp mầu rất dày. Lớp nền mầu trắng có lẫn nhiều thạch cao (gặp độ ẩm, hay khô đều co dãn, gây nên hiện tượng bong rộp). Lớp mầu thứ hai lẫn nhiều chất khoáng, gặp thời tiết ẩm như Việt Nam có độ phản ứng hóa học cao làm xỉn lớp mầu sáng trên cùng.
Khi họa sĩ Nguyễn Thị Hồng (trưởng đoàn đem tranh sang Đức) trình bày những điều này, họa sĩ Lý Trực Sơn đã giải thích thêm, rằng lớp mầu có nhiều chất khoáng đó chính là mầu sơn dầu tự chế của trường Mỹ thuật (trộn bột mầu với dầu lanh rồi nghiền). Còn lớp mầu trắng có lẫn thạch cao ở dưới có thể là do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đã mua ở Ngõ Gạch, là mầu giả (thời đó mầu trắng rất hiếm). Lớp mầu trên cùng lại là mầu của CHDC Đức cũ, rất dễ mốc. Tổng hợp những thứ đó, giải thích tại sao bức tranh mới vẽ gần 30 năm đã hỏng nặng như vậy.
Sau khi khám kỹ, bức tranh được phục chế bằng cách dùng các thiết bị chuyên dụng ép phẳng mặt tranh bằng van hút chân không. Sau đó chấm mầu lên từng chỗ bị rụng mầu. Cuối cùng là ép thêm các lớp bảo vệ đặc biệt vào mặt sau bức tranh. Có mặt tại buổi báo cáo có một số họa sĩ, họ nhìn ngắm rất kỹ bức tranh và đều tỏ ra hài lòng vì sau khi phục chế, tranh vẫn giữ được nguyên trạng sắc thái, tinh thần cũ.
Họa sĩ Lý Trục Sơn còn cho biết ông rất xúc động khi xem lại tác phẩm này sau khi phục chế "bởi họa sĩ Việt Nam vẽ sơn dầu nhiều, nhưng ra tinh thần sơn dầu như tác phẩm này thì ít".
Bình văn thì thật hẩm hiu...!
Trong khi đó bảo vật Bình văn - bức tranh đã có tuổi gần một thế kỷ, được đặt nhiều kỳ vọng khi đi phục chế tận châu Âu lại về "tay trắng", không phục chế được. Chẳng có sửa sang gì ngoài việc căng lại toan trên sát xi mới kèm một lớp bảo vệ ở mặt sau. Những vết mầu tróc vẫn còn nguyên. Vì sao?
Theo lời giải thích của ông giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật, khi chụp ảnh bằng tia hồng ngoại, mới phát hiện ra trên bề mặt của bức Bình văn có phủ một lớp véc-ni trong không phải dùng cho sơn dầu mà là cho tranh... sơn mài! Các chuyên gia Đức "chịu chết" không tìm ra loại hóa chất nào để có thể tẩy rửa lớp véc-ni này (rồi mới có thể tiến hành phục chế được).
Lớp dầu trong này có mầu vàng ngà thường nổi lên trên cùng bát sơn mài khi để láng. Các họa sĩ sơn mài hay dùng lớp dầu này (gọi là "dầu mặt sơn") để "toát" tranh sơn mài (phủ ngoài cùng bảo vệ và tăng độ bóng cho bề mặt tranh). Thời xưa, các thợ làm tượng truyền thống cũng dùng lớp dầu này phủ lên "da" tượng Phật.
Chính lớp dầu phủ bề mặt này đã làm cho sơn trên mặt tranh Bình văn rạn theo các vân xoáy (như vết rạn trên sứ men rạn, hay rạn trên da tượng cổ) chứ không rạn như đất rạn trên các tranh sơn dầu khác. Điều vô tình này làm các chuyên gia Đức rất "khoái". Họ hứa rằng khoảng tháng 2-2006 sẽ cử người sang Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và tìm cách tẩy rửa, phục chế tiếp tác phẩm này.
Lớp dầu trong này được phán đoán có lẽ được phủ lên sau này, chứ không phải phủ lên ngay sau khi tác giả vẽ xong.
Năm tới, Bảo tàng Mỹ thuật sẽ tiếp tục liên kết với các đối tác Australia, Italy, Đức để tiếp tục tu sửa thêm một số tác phẩm, đồng thời học tập kinh nghiệm để xây dựng cho trung tâm phục chế sơn dầu tại Việt Nam. Chắc chắn, khi "khám bệnh" tiếp cho các tác phẩm của Bảo tàng Mỹ thuật, sẽ phát hiện thêm nhiều cách đối xử "lạ lùng" hơn cả việc lấy dầu sơn mài phủ lên tranh sơn dầu... như Bình văn! Nhưng dù sao, qua những chuyến "du Tây phục chế" này, thái độ ứng xử của người văn minh đối với nghệ thuật đầy trân trọng và khoa học của nước bạn đáng làm chúng ta phải suy nghĩ.