Tạc hình Bác Hồ trong hang đá Trường Sơn

I.

Sau chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, đơn vị tôi được lệnh tiếp tục hoàn thiện, củng cố tuyến dây trần chiến lược và kéo thêm các đường nhánh phục vụ cho chỉ huy sở tiền phương mặt trận B5. Nhiệm vụ nặng nề bởi vừa phải bảo đảm an toàn bí mật cho đường dây thông tin, vừa phải chống trả sự phản công của địch hòng giành lại những vùng đất ta vừa giải phóng. Rồi những tháng của mùa mưa ập đến kéo theo vô vàn gian khổ và hiểm nguy cho người lính thông tin xây dựng đường dây. Lũ cuốn phăng phăng, mang theo cả những cây cầu treo bắc lưng chừng dốc. Lán trại chúng tôi chuyển dần lên cao và nhiều đoạn đường dây phải nắn lại, chạy quanh sườn núi. Tháng 11 năm 1968, cả đơn vị hành quân ra bắc nhận nhiệm vụ cải tạo, nâng cao đường dây trục, đề phòng Mỹ tiến hành trở lại cuộc chiến tranh phá hoại. Vì những vết bỏng trên người do dính bom phốt pho của giặc chưa phủ kín da non, không thể hành quân mang nặng trên đường bộ, nhất là đoạn đường 20 mới mở gập ghềnh đi ngầm dưới suối, đại đội phân công tôi ở lại trông kho, chờ xe của Trung đoàn quay vòng bốc nốt số vật tư thu hồi từ những đoạn đường bị bom thù chặt nát.

Cứ ngỡ chỉ sau một tuần theo như đã hẹn, nào hay hết tháng 11, rồi tháng 12 qua đi mà đơn vị vẫn chưa cho xe về đón. Gạo, lương khô và ít hộp thực phẩm, ăn dè mãi rồi cũng hết. Ngày nào tôi cũng mò ra gần đường ô-tô, mong anh em đến còn hơn mong mẹ về chợ. Giặc vẫn điên cuồng trút bom và pháo kích xuống vùng Ngã ba Gió này hòng chặn đứng con đường huyết mạch của ta. Tôi đâu biết rằng, tất cả đã được chuyển sang bên kia Trường Sơn, nơi đêm đêm, bầu trời mịt mù bụi đỏ, chiến dịch mới đang hình thành.

II.

Hang đá vừa làm kho vừa là nơi ở của tôi ở vùng rừng phía tây Thừa Thiên dần dần trở nên chật chội bởi nhiều gia đình bà con Vân Kiều dọn đến. Bản làng đã thành tro bụi. Ðàn ông phần lớn chỉ còn mảnh khố. Phụ nữ ngực trần thỗn thện, chiếc váy quanh người thủng lỗ chỗ không còn vá nổi. Cây ngô cây sắn trên rẫy làm sao sống được trước bom đạn cày đi xới lại từng giờ. Tôi cũng như họ, hằng ngày lần xuống thung sâu, nơi có dải rừng chuối mọc nép mình giữa hai triền đá, tìm quả chuối non, tìm hoa chuối và cuối cùng là thân cây chuối cũng được chặt về, thái nhỏ luộc vắt cho hết nước chát, ăn thay cơm gạo. Cứ thế, ngày này sang ngày khác, tôi sống cùng người Vân Kiều trong hang đá ấy, tựa như cuộc sống của một bộ lạc thời tiền sử. Tôi dạy họ đọc chữ của người Kinh - chữ của Bác Hồ và họ dạy tôi lời ăn tiếng nói Vân Kiều, thứ ngôn ngữ lúc nào cũng trong vắt và líu ríu như chim. Ðêm đêm, tôi kể chuyện và dạy hát - những bài hát một thời miền bắc thương nhớ miền nam và nguyện đấu tranh đến cùng cho ngày sum họp. Giữa tọa độ lửa, bao đôi mắt hõm sâu người già, cái nhìn long  lanh con trẻ cho tôi nồng nàn tình yêu thương đùm bọc, cho tôi nguôi ngoai phần nào niềm nhớ mong anh em, đồng chí.

Có những đêm Trường Sơn bỗng dưng vắng lặng đến ghê người. Khi ai nấy đã tản vào các vách hang ngủ thiếp, tôi mò ra cửa hang nhìn lên vầng trăng nhòa trong sương lạnh. Ðôi chim từ quy vẫn gọi nhau, đêm ấy không còn nghe tiếng nữa, hẳn đã vùi xác theo trận bom chiều nơi vạt rừng bằng lăng trước mặt. Cả những ầm ì thảng thốt từ con đường vận tải bên kia dãy núi cũng không còn vọng đến. Nỗi nhớ nhà, nhớ đơn vị lại cồn lên day dứt với câu hỏi: "Hay đơn vị đã bỏ quên mình?". Nhiều lúc tôi muốn ra đi - tìm về đơn vị lúc này là tìm đường về miền bắc, về hậu phương, trong khi nhiệm vụ phải ở đây giữ kho vật liệu, cho dù những thứ còn lại trong kho cũng chẳng nhiều nhặn, giá trị gì. Và, như thế cũng có nghĩa là từ bỏ nhiệm vụ, là đảo ngũ. Tôi còn định lần theo đường dây tìm tổ bảo vệ gần nhất. Nhưng rồi, tôi vẫn không thể bỏ cái hang đá có kho vật liệu này mà đi, vì biết bom đạn có thể bất kỳ dội xuống dọc đường, hay đơn vị có thể bất kỳ tìm đón mà tôi đã không còn ở đó.

Tôi cứ nghĩ như thế trong nhiều đêm không ngủ. Tôi nhẩm tính thời gian biết năm mới bắt đầu. Chiếc đài bán dẫn Orionton của đơn vị giao cho, từ lâu hết pin, treo lủng lẳng trên nhũ đá bỗng làm tôi chú ý. Tôi thử bấm nút, tiếng ò ò phát ra rất nhỏ, áp tai nghe vẫn có thể nhận biết tiếng người. Tôi chợt nhớ có lần ở quê, thời đi học, thầy giáo vật lý có làm một thí nghiệm phục hồi pin bằng cách chọc thủng vài lỗ trên thân pin và cho muối ăn vào đó. Tôi vội tháo những chiếc pin còn cứng trong hộp đài, tìm gói muối ăn quý giá dù chỉ còn vài dúm nhỏ.

Như một phép lạ, chiếc radio của tôi bật nói, trong những âm thanh yếu ớt, tôi vẫn kịp nhận ra lúc này đang là buổi phát thanh quân đội, bản tin nói về Ðại hội thi đua quyết thắng và lá thư của Bác Hồ thân ái gửi khen bộ đội thông tin liên lạc. Tôi lắng nghe từng lời thư của Bác qua giọng đọc chậm rãi của người phát thanh viên trong đêm Trường Sơn mà quá đỗi bồi hồi. Bản tin đã hết, nhưng chương trình của Ðài Tiếng nói Việt Nam cũng đã hết và âm thanh cũng nhỏ dần cho đến khi lịm hẳn, tôi vẫn ngồi áp tai vào chiếc đài bán dẫn như thế, không biết quanh mình, nhiều bà con Vân Kiều đang lẳng lặng chờ tôi nói một điều gì đó. Bằng vốn tiếng ít ỏi vừa học được, tôi nói với bà con về việc "Bác Hồ gửi thư khen bộ đội Thông tin", và suốt những ngày sau, cả hang đá cứ rì rầm truyền nhau câu nói: "Bác Hồ, Bác Hồ khen bộ đội".

Trong nỗi nhớ mong đơn vị, trong niềm xúc động dâng trào trước lời thư Bác gửi: "Ðã có cố gắng, cần luôn luôn cố gắng hơn nữa", tôi cứ nghĩ như đang được Người khen mà nghẹn ngào vui sướng. Vụt nảy trong đầu ý nghĩ: tôi sẽ tạc hình Bác Hồ vào vách đá ở đây, để hằng ngày tôi được ngắm, để những người con Vân Kiều trung thành với cách mạng kia cũng hằng ngày được ngắm. Tìm trong kho vật liệu, tôi lôi ra một chiếc búa gãy cán, mấy chiếc trụ sứ cong, chân vạt nhọn để đóng thẳng vào thân cây rừng, theo sáng kiến của một cán bộ Trung đoàn, bây giờ được tôi đánh thẳng lại và dùng làm đục. Những chàng trai Vân Kiều đã giúp tôi dọn sạch một khoảng vách đá tương đối bằng phẳng, bạt bớt những chỗ đá ghồ ghề, tôi vẽ theo trí nhớ hình Bác Hồ với khuôn mặt nhìn nghiêng, được in trong tờ giấy bạc 10 đồng miền bắc. Ðó là hình Bác Hồ rõ nhất và dễ cho tôi thể hiện. Tôi đục theo nét phác đơn giản, tạo thành những rãnh chìm trên đá. Ngày tiếp ngày, hình Bác Hồ hiện dần lên trước sự ngưỡng vọng của bà con Vân Kiều. Họ kinh ngạc và thán phục, họ dành cho tôi sự chăm sóc đặc biệt với những quả chuối hiếm hoi còn lại. Họ giúp tôi khiêng đá buộc cây làm giá đứng. Họ tìm lá rịt xoa vết phồng rộp trên hai bàn tay tôi. Ðêm đến, họ ngủ quanh chỗ tôi làm việc. Còn tôi, mỗi khi nhớ về Bác, mỗi khi nhìn vào bao ánh mắt của những người dân tộc tự nguyện lấy họ Hồ làm họ của mình, đang nhìn theo từng vết đục, tôi cảm thấy mình khỏe thêm, dù đôi tay nhiều lúc tưởng chừng không nâng lên được nữa.

Tôi không nhớ việc mình làm đã được bao ngày, chỉ biết rằng những nhát đục khắc hình Bác lên vách đá đã hằn vào sâu lắm. Tôi đục nốt những dòng chữ nhỏ ở dưới ghi ngày 28 tháng 1 năm 1969. Tôi không muốn ghi ngày tháng hoàn thành như việc thường làm của các nghệ sĩ. Tôi muốn lưu lại cái ngày đáng nhớ được Bác gửi thư khen bộ đội thông tin vào vách đá, cái ngày đầy xúc động để tôi làm nên một việc cực kỳ có ý nghĩa đối với tôi nơi bom lửa chiến trường...

Tôi rời giàn giáo trong vòng tay đồng đội. Thì ra, xe đơn vị đã đến và mang bao nhiêu quà Tết cho tôi. Họ đứng từ lâu, lặng lẽ nhìn người đồng chí của mình mặt mũi, tóc tai, áo quần vương đầy bụi đá. Họ ngắm hình Bác Hồ qua hai bàn tay phồng rộp và quấn đầy giẻ của tôi, lặng thầm nuốt những dòng nước mắt. Quà Tết được mở ra, chung vui với bà con Vân Kiều. Hang đá hôm đó thật sự là ngày hội. Mọi người tập trung dưới hình Bác, nhảy múa, hát cười và khóc. Ngoài kia, dưới chân núi đá, đạn bom vẫn trùm lên những cánh rừng tơi tả...

Có thể bạn quan tâm