Có lẽ vì dường như mỗi người, từ vai trò xã hội của mình, đều đang phải lao vào hết công việc này đến công việc khác, mà phần lớn các công việc ấy đều là những công việc mới lạ mà chính mình chưa từng biết đến, cho nên thực tình, ít có thời gian để suy nghĩ về nó cho chu đáo, dù biết là rất quan trọng.
Lúc này, khi thế giới đang bước sang giai đoạn mới của lịch sử, giai đoạn hội nhập, xu thế hòa bình, chính là lúc chúng ta có điều kiện để suy nghĩ, tìm hiểu thấu đáo hơn cái chân lý mà theo tôi là cơ sở để cắt nghĩa mọi thành công trong lịch sử dân tộc. Người làm về văn hóa là nhìn về tương lai, vì không ai thay đổi được quá khứ, nhưng có những bài học của quá khứ giúp ta hiểu hiện tại để hành động cho có kết quả.
Nếu nhìn văn hóa Việt Nam theo quan điểm duy vật thì phương thức sản xuất có ảnh hưởng quyết định đối với văn hóa. Sản xuất lúa nước có tác dụng to lớn đối với văn hóa Việt Nam. Chắc chắn, đây không phải là loại hình sản xuất đầu tiên. Nhưng đến thời Thục Phán giành thắng lợi, dựng đô ở vùng Hà Nội thì đó đã là loại hình sản xuất chủ đạo. Còn trước đó, sản xuất loại lương thực khô như ngô, khoai lang, các loại cây như kê, đậu nành cần ít nước là loại hình sản xuất chính, như điều hiện nay ta còn thấy ở các dân tộc vùng cao.
Có một sự khác nhau khá triệt để giữa hai loại hình văn hóa. Với loại hình sản xuất lương thực khô thì một gia đình tự nó có thể lo liệu được, như điều ta thấy ở phương Tây, do đó họ không có văn hóa làng hay văn hóa làng nước như ta thấy ở Việt Nam. Nhưng đã trồng lúa nước thì tất yếu không thể nào một gia đình đơn lẻ lo liệu được việc đào sông dẫn nước, tháo nước, đắp đê phòng lụt. Kết quả, con người từ chỗ là một thành viên của gia đình, tông tộc, bắt buộc phải là một thành viên của những tổ chức xã hội rộng lớn hơn, bao quát hơn, tức là của làng, rồi của nước. Từ đó, đẻ ra văn hóa làng nước, với hệ thống tư tưởng để thuyết minh cho nó ra đời, gồm huyền thoại, tín ngưỡng, phong tục, tập quán và chính trị, tập trung quanh khái niệm "đoàn kết".
Nhưng đã gọi là tổ chức xã hội thì thế nào cũng phải có phân công và tôn ty trên dưới. Do đó, khái niệm đoàn kết lần này, lượt khác bị xáo trộn, thậm chí bị xuyên tạc qua những cách lý giải về tôn ty, và ở Việt Nam, Tống Nho đã tìm mọi cách phủ nhận nó. Nhưng chính thực tế chính trị và lịch sử lại khiến nó được phục hồi sau mỗi lần bị xáo trộn, bởi vì ngoài con đường đoàn kết ra, không có con đường nào để giành lại, gìn giữ độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, phồn vinh cho dân tộc và hạnh phúc cho người lao động.
Không phải ngẫu nhiên mà huyền thoại "Cha rồng, mẹ tiên" ra đời để thống nhất toàn bộ dân tộc thành một gia đình. Cái gia đình ấy tách ra một nửa lên non, một nửa xuống biển, nhưng lên non hay xuống biển thì vẫn là cùng một gia đình. Lớp xuống biển là người Kinh, lớp ở lại vùng núi và trung du là người các dân tộc thiểu số, cả hai đều chung một giàn. Ðã thế, vùng Bắc và Bắc Trung Bộ bị đe dọa thường xuyên bởi lụt bão, hạn hán, đói rét và bệnh tật. Ðọc Nguyên sử, tôi thấy quân đội Mông Cổ vốn quen sống ở đất khô, khí hậu không thay đổi bao nhiêu, nhắc đến bệnh tật, hạn hán, lụt lội và các cánh đồng chiêm ngập nước, kỵ binh không cách nào hoạt động với một sự sợ hãi khó tả. Người Việt Nam sống trong một hoàn cảnh đặc biệt khắc nghiệt như vậy, làm thế nào có thể tồn tại được, ngoài con đường "chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ"?
Nền văn hóa làng nước hình thành bao giờ? Chắc chắn, nó đã chớm nở trước công nguyên vài thế kỷ, khi hầu như toàn bộ châu thổ sông Hồng, với sông nước chưa thể cày cấy gì được, mà cần phải có sức mạnh toàn dân đắp đê chống lụt, đào sông dẫn nước hết sức vất vả. Nhưng cũng chính những vất vả này tạo nên tinh thần đoàn kết vô song của người Việt Nam. Chưa nói đến đoàn kết về mặt chính trị, chỉ nói đến đoàn kết về mặt kinh tế thì cũng đã bắt buộc người Việt Nam phải sống gắn bó với nhau, để sau đó ra đời cái làng Việt Nam, tự quản lý lấy mình về kinh tế, tôn giáo, rồi đến chính trị và con người Việt Nam là chủ của đất nước mình. Chế độ ruộng công có lẽ có từ trước Công nguyên, không phải ngẫu nhiên mà tồn tại suốt chiều dài lịch sử. Tinh thần đoàn kết là nền tảng của văn hóa dân gian, của ca dao, tục ngữ. Có một nền văn hóa làng, với các đặc điểm riêng về tôn giáo, với tục thờ thành hoàng; những đặc điểm riêng về tổ chức chính trị, như chế độ bầu bán các chức vụ của làng, sự gắn bó của dân làng với nhau: "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ"; một chế độ chính trị độc đáo, các làng chỉ nộp cho Nhà nước thuế ruộng, thuế đinh, những người tòng quân để bảo vệ nước và dân công để làm những công việc chung như đào sông, đắp đường, xây dựng các thành lũy, cung điện. Còn ngoài ra, các làng tự quản lý lấy mình. Dĩ nhiên, ở đây không thiếu gì những nhũng nhiễu, bất công mà vào thời Pháp thuộc đã được phơi bày. Nhưng cũng phải nói, người Việt Nam đã được tập dượt để làm những người công dân, họ được công luận ủng hộ và lòng yêu nước của họ là xuất phát từ tinh thần làm chủ làng nước mà ra, cho nên họ có một truyền thống hy sinh vì nước hết sức mãnh liệt.
Ðiều này cắt nghĩa tại sao họ dễ dàng đi theo lý tưởng XHCN. Chính sự tồn tại của cái làng tự quản cắt nghĩa tại sao Việt Nam không trải qua hai giai đoạn biến thiên gần như chung cho nhiều nước trên thế giới. Một là, ở Việt Nam không có chế độ nô lệ khi địa vị công dân được làng xã che chở. Hai là, Việt Nam không trải qua chế độ phong kiến phân quyền với những ông chúa đất làm chủ một vùng như một ông vua độc tài. Chế độ này tồn tại khắp châu Âu, đã bị xóa bỏ bởi giai cấp tư sản để lập ra những dân tộc tư sản. Nếu như sách sử có nói đến những lạc hầu, lạc tướng (có thể là dịch từ hầu nước, tướng nước) thì quyền lực của họ rất hẹp. Cũng vậy, ở Việt Nam, giai cấp tư sản không đóng vai trò gì quan trọng vì nó bất lực, sinh ra từ nách của chế độ thuộc địa. Có thể nói, lịch sử Việt Nam là lịch sử toàn dân đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để cùng sống, chia chung gian khổ, ngọt bùi.
Ðiều này cũng cắt nghĩa hiện tượng có thực nhưng có vẻ phi lý. Ðó là từ thế kỷ thứ 10, khi Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương bắc, đến năm 1859, khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, suốt một nghìn năm ấy, Việt Nam đánh bại tám lần xâm lược của những đạo quân mạnh nhất và đông nhất thế giới. Nếu không kể những nước ở cách biển khơi thì thực tế chưa có nơi nào có một lịch sử kháng chiến oai hùng đến như vậy. Chiến thắng bằng cái gì? Bằng tinh thần đoàn kết toàn dân, bất chấp mọi trở lực.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng "Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết" tiếp tục được phát huy góp phần để Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, trở ngại.