Lão đi chậm trên con đường cát pha sỏi đất đỏ, vừa đi vừa nhìn hết bên nọ bên kia. Cái gì trong ánh mắt của lão cũng vừa lạ, vừa ẩn hiện một nét quen quen. Ở cái tuổi 81 mà lưng lão vẫn còn thẳng, dáng đi vẫn còn nhanh, ánh mắt vẫn sắc, trải đời, bao dung mà ẩn chứa. 19 tuổi lão đã đi khỏi làng, chỉ bốn lần về thăm mà nay đã ngoài 80 tuổi thời gian sao mà nhanh quá vậy. Ngày đi ôm mối thù hận chất chứa trong lòng, mỗi lần về mối thù lại vơi bớt đi vì kẻ mà lão thù hoặc đã bị lão hạ dưới tay, không còn khả năng gượng dậy hoặc chết rồi, mặt khác mỗi một năm lão lại chiêm nghiệm dần thêm một ít về nhân tình thế thái, lẽ thường tồn biệt dị của con người nên những gì còn lại lão chưa làm được cũng biến dần theo màu tóc mái đầu và những lần sưng đau xương khớp khi trái gió trở trời. Tuổi già anh minh thật, nhiều khi lão nghĩ sao trước đây mình không nghĩ được như bây giờ nhỉ? Bây giờ sao thanh thản vậy, cũng chẳng muốn oán giận ai cái gì, chỉ muốn thăm lại những nơi xưa cũ, tìm lại một thời trai trẻ đã qua.
Mải nghĩ mải nhìn lão đã đến trước cái cổng tre rệu rã, buộc ơ hờ vào gốc tre khô nhô ra nơi lối mòn vào mảnh vườn có ngôi nhà hoang phế mà lâu lắm lão mới về thăm. Gió ngoài cửa biển vẫn thông thốc thổi cuốn đám lá tre khô, rơm rạ bay tứ tung loạn xạ, bụi cát khô quất nhè nhẹ vào bàn chân. Vườn nhà không có cây gì trồng chỉ trơ ra đất cát pha bạc màu và cỏ úa vàng, tre tả tơi cây rạp cây xiên. Đến trước hiên nhà đang nhìn lên để tránh mấy cành cây khô nửa mắc trên mái nửa lòng thòng treo xuống chắn đường chân lão đá vào một vật gì cứng. Lão cúi xuống nhặt lên vừa gạt những đám rác lá đeo bám, vừa phủi bụi thì nhận ra chữ "đẳng" viết theo lối sơn son thếp vàng, chữ đã mất góc nhưng màu vàng vẫn còn tuy đã ố. Trời ơi! Sao bức đại tự hoành phi từ đời ông cụ thân sinh ra lão được ban tặng lại bị gãy nát nằm ở đây? Sao chú em bà con của lão mà lão giao giữ nhà hương khói biết gốc tích chuyện này, chuyện lão xa quê lại để như vậy được?! Hàng quý lão vẫn gửi tiền về kia mà? Lão lật đật tháo các vòng dây rối rắm đủ các kiểu buộc chằng chịt hai cánh cửa gỗ bạc màu mục rệu rã để vào nhà. Lão nhào vào chỗ đặt bàn thờ hương án. Không còn gì ngoài mấy cái lư hương đặt sai chỗ, bài vị vất trong góc bụi phủ đầy quấn mạng nhện. Bức đại tự thường treo chính giữa phía trên ban thờ không còn chỉ có mấy móc dây dứt lòng thòng như dấu hỏi. Hương án điêu tàn thế này hèn gì mấy ngày trước lão đau nhức trong người lắm, đầu óc lung mung chỉ ưng về quê, cứ đặt lưng xuống là nằm mơ thấy cảnh cái ngày lão lên năm, hương chức cả huyện Gio Linh kéo nhau tới nhà lão sì sụp cung nghinh bức đại tự kính cẩn treo lên rồi vái lạy ông thân sinh ra lão... rồi cái ngày ông cụ của lão chết.
Lão bỏ tất cả lại hối hả đi vội qua nhà chú em họ để hỏi sao lại để như thế này. Chẳng ai đón lão, chỉ có con chó gầy gò khẳng khiu sủa inh ỏi. Nhà chú em cũng vắng lặng, chẳng quét tước gì, rác vào tận cửa. Đẩy cửa vào nhà lão lên tiếng gọi thì nghe tiếng trả lời hừ hừ trong chái nhà của người đang bệnh. Cầm tay người em hỏi han bệnh tình gia cảnh lão mới biết là em lão bệnh đã 5 tháng nay. Lòng thương người máu mủ họ hàng trong lão nhói lên, lão nhẩm tính chú em lão cũng đã 75 rồi, một đời sương nắng ăn chẳng đủ no, ngồi chưa một ngày thấy sướng, hết khóc con rồi khóc vợ, chịu tra tấn tù đày vì liên quan đến lão. Lão còn hưởng đồng lương đại tá hưu trí hai triệu một tháng chứ chú em chỉ có vài trăm ngàn tiền tuất liệt sĩ của con lại còn san sẻ cho các con cháu. Lão một đời nội công thâm hậu, khổ thì cũng rất khổ nhưng khổ rồi còn có ngày sướng chứ em lão chưa có lấy ngày nào gọi cho ra hồn là sướng thì đau yếu tất phải đến. Trong cái ngày gió cát quật quả, ánh chiều đang tắt dần, mùi ẩm mốc chua chua của giường người bệnh, hai người già ngồi lặng bên nhau, tiếng được tiếng mất.
Cứ theo lời của em lão nói lão từ từ tìm lại được những cái cần hỏi và tìm, vơi nhẹ dần những bực tức mà từ xế trưa lão bắt đầu chứng kiến. Em lão đau không sang thăm gác nhà được, mấy người nghèo trong làng họ phá nhà thờ của lão lúc nào chú em không biết. Lúc biết cố sang thì mọi sự đã rồi. Mấy chữ vàng hai bức liễn cũng bị họ cạy phá, cột gỗ lim hút đinh vào hàng chục năm nên dính chặt làm gãy gỗ bức liễn, họ cạo vàng mạ trên chữ vất sang một bên, bức hoành phi bốn chữ "Uy dũng đẳng thần" bị giật gãy tan thành ba miếng, vất lăn lóc, đồ tự khí bằng đồng và gỗ tốt, sứ Tàu đều bị bê đi sạch. Em lão chỉ nhặt nhạnh lại được đủ ba miếng bức hoành phi, sửa lại bàn thờ bằng lư sành mới mua tạm ngoài chợ chờ lão về vì bệnh già càng ngày càng nặng. Lão cũng an ủi được phần nào vì vẫn còn bốn chữ, lão sẽ đưa ra Hà Nội cho ghép lại, sơn son thếp vàng lại và cất giữ tại nhà. Chỉ một ngày sau lão đã sắp xếp lại toàn bộ ngôi nhà sạch sẽ ngăn nắp, mua sắm một số tự khí cho bàn thờ tiên tổ. Lão nhờ mấy đứa cháu con chú em sắp một mâm cỗ cúng tổ tiên khá thịnh soạn và cho mời hàng xóm láng giềng sang dự để lão có lời thưa gửi, tránh phiền hà về sau. Lão nói để mọi người biết là nhà và vườn lão giao cho con cháu bên chú em ở và trồng trọt, tiền cúng giỗ lão sẽ gửi về hàng năm, không cần đóng lại từ hoa lợi thu được. Khi nào lão chết con lão sẽ về vái lạy tổ tiên xin ba nắm đất ở phần mộ ba đời mang ra rắc xuống mộ lão thì các cháu khỏi cúng giỗ cho nhà lão, con lão ở đâu sẽ cúng đó, gia sản sẽ cho hẳn con cháu em lão.
Đêm đó lão thức cả đêm và hé lộ cuộc đời mình cho em lão và các cháu biết lão đi đâu và làm gì suốt hơn 60 năm qua.
...Thuyền Vua ngự theo sông đào Vĩnh Định ra thành Quảng Trị, xuôi nước về gần Cửa Việt lại theo sông đào đi ra sông Hiền Lương, ngược dòng lên Linh Thượng Thủy Ba săn cọp. Cả đoàn ngự giá hơn 800 người, 100 ngựa, 45 thuyền đan trên sông cờ lọng rợp trời, hai bên bờ cường hào tộc biểu, quan viên nghinh tiếp quỳ lạy khi khuất bóng thuyền còn ngâm vọng ca ngợi. Đến nơi hạ trại được một ngày, quan hộ giá cùng viên thổ quan Gio Linh và án sát tỉnh Quảng Trị đi thăm dò và chọn khu vực cho đoàn săn của Vua ngày mai. Sáng hôm sau Vua thức dậy sớm, dùng ngự thiện xong, đang thưởng trà để chuẩn bị đi thì quan Khâm thiên giám vội vã bước vào bẩm tấu:
- Tâu bệ hạ, đêm qua thần xem thiên tượng thấy uất khí vượng hướng Tây do dân ba tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị mất mùa đói kém oán giận than trách mà nên. Đêm qua đoàn ngự giá có một tiểu nữ đi ra khỏi nhà bị beo bắt mất, quân ngự lâm đuổi theo không tìm thấy xác, vả lại ngày hôm nay là ngày Giáp Thân, trực phá khắc tuổi với bệ hạ. Thần nghĩ bệ hạ không nên đi săn hôm nay, hãy để ngày mai, để bách thần và các quan Tây săn thử hôm nay xem sao.
- Ta đã ra đến đây là để đi săn chứ lo gì việc ấy. Dân no đói các quan tỉnh huyện phải lo cớ sao dám vận vào chuyện săn bắn của ta.
Vừa nói nhà Vua vừa mân mê khẩu súng Calip hai nòng, một trong những quà tặng của quan Khâm sứ Trung Kỳ. Khoát tay một vòng kiểu cách, nhà Vua hạ lệnh bắt đầu đi săn. Cả một vùng rừng Thủy Ba rộn ràng tiếng chiêng trống, chó sủa ngựa chạy rầm rập. Hơn ba trăm ngự lâm quân và hai trăm tráng đinh địa phương tỏa ra vây chặt các ngả của khu rừng mà thổ quan đã chọn. Từng tấm lưới gai lớn được đan thêm dây sắt nhỏ gọi là thép lụa để tăng độ bền được đám quân lính và thợ săn tráng đinh nhấc dần theo chân đàn chó săn tiến sâu vào khu rừng. Một vài nơi đã thấy ánh lửa và khói vì gặp mãnh thú nên thợ săn đốt hỗ trợ cho đàn chó. Đến giữa trưa chỉ còn một vạt rừng rộng gấp hai sân bóng đá, khá bằng phẳng bị lưới phủ kín bốn phía, bên trong đủ các loại thú chạy đi, chạy lại mỗi khi bầy chó chồm về phía trước. Lúc này nhà Vua ngự tới, ngồi trên mình một con ngựa bạch cao lớn, nghe nói giống xứ Noóc- Măng gì đó bên Pháp cùng hơn hai chục quan Tây quan ta. Chỉ một mình nhà Vua có súng cùng quan Tây, các quan ta và quân ngự lâm chỉ mang gươm giáo. Quan chỉ huy đội săn hô từng hồi để đám thợ thúc chó, bắn tên gắn mồi lửa vào trong vòng vây dồn thú chạy để Vua và các quan Tây bắn. Bóng thú chập chờn, súng nổ từng loạt, tiếng hò hét, tiếng chó sủa, tiếng rống thảm thiết của thú trúng đạn. Vòng vây khép lại dần chỉ còn một nửa tiếng súng nổ dồn dập hơn, tiếng cười nói xì lô xì la ầm ĩ. Bất ngờ trong loạt đạn săn có lẫn đạn ghém Vua thường dùng đi săn vịt trời ở đầm Cầu Hai làm ba người thợ săn bị thương, không giữ nổi tấm lưới lớn. Chỉ tích tắc, một con cọp lớn phóng thẳng ra theo hướng lưới đổ, các quan Tây ta cuống cuồng thúc ngựa dẫm đạp nhau mà chạy, bỏ nhà Vua bàng hoàng chết trân trên yên ngựa bạch. Giống ngựa Tây thấy cọp phóng thẳng về phía mình hoảng sợ tung vó chạy hất nhà Vua lộn nhào xuống đất, ngự lâm quân hầu cận còn được ba người, trong đó có thân phụ lão vội bay mình đỡ Vua. Thân phụ lão ngoảnh nhìn thấy con cọp vằn vện lông màu vàng lửa chỉ còn cách Vua khoảng hai chục thước đang chạy tới rất nhanh chỉ một cú phóng mình nữa là sẽ tát chết cả đám. Ông rút thanh kiếm luôn đeo bên mình và chỉ một bộ pháp đã đối diện ngay trước mặt cọp dữ. Khi con cọp bay lên vồ vào đám người đang dúm dó lại thì ông cũng thi triển một cú song phi tuyệt kỹ, tay phải phóng hết sức lưỡi gươm về phía nó. Lưỡi gươm đã xuyên qua yết hầu con cọp trước khi đòn phi cước hất nhào nó ra phía sau. Nó bị lầm do thấy bóng người bay vào nó vừa vồ vừa giơ tay tát thì để hở rộng khoảng giữa hầu. Tuy giết được cọp dữ nhưng ông cũng bị sức nặng gần ba tạ của con cọp hất ngã mấy thước về phía sau.
Buổi săn kết thúc trong hoảng loạn, Vua không nói gì nữa, hạ lệnh về biệt điện Cửa Tùng nghỉ ngơi. Lúc này sấm sét lôi đình mới bắt đầu giáng xuống. Mấy chục quan hộ giá đều bị cách tuột phẩm hàm hai bậc, không còn được trọng dụng như trước, quan đầu tỉnh chỉ còn hàm tòng ngũ phẩm, quan huyện Gio Linh xuống hàm tòng bát phẩm, cho lưu chức ba năm lập công chuộc tội, quan các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh bị giáng xuống một bậc vì để cho dân đói oán hận suýt làm mất mạng Vua. Các quan Tây hết hồn về Huế hết, chỉ còn lại một vị luôn bám theo Vua giám sát là ở lại với mụ vợ đầm lai rau muống vốn là con hát cô đầu lấy Tây. Riêng ông thân sinh ra lão được thăng bốn bậc lên hàng tứ phẩm hộ giá, hai người lính ở lại đỡ Vua lúc nguy nan được thăng hàm thất phẩm ngự giá. Gia tộc nhà lão được ban tấm hoành phi đại tự bốn chữ như đã kể ở trên về treo cho vinh thăng, quan địa phương phải chuẩn bị đón rước cả chục hôm. Từ đấy gia tộc nhà lão vinh vang lắm, cụ lớn chỉ huy cấm quân trong cung, suốt ngày luôn kề cận bên đức Vua, các quan trong triều nghe kể về công cứu giá đều tròn mắt thán phục, quan Tây cũng hãi. Các kỳ thi Võ tấn sĩ ông đều làm chủ khảo khi ở trường thi này khi ở trường thi khác. Và tai hoạ cũng bắt đầu từ trong vinh hạnh ấy, nó đến từ từ một cách kín đáo như lẽ tất nhiên của số phận những con người trung thực và uy dũng hơn người, nó hiện tồn trong suy nghĩ và hành động của gần như bất cứ người nào khi nghĩ về những kẻ hơn mình.
Trường thi Võ tấn sĩ xứ Thanh năm ấy, hảo hán Bắc Hà tề tựu tranh hùng. Nhà vua giao ông làm Chánh chủ khảo. Đã gần năm mươi tuổi kinh nghiệm đầy người nhưng sức ông đã hao mòn dần theo tuổi tác. Kỳ thi năm ấy có một võ sinh ngón nghề quyền cước cao cường, thập bát ban binh khí rành thông đến mức hảo thủ, người danh cao thích mang đồ trắng theo kiểu Tàu. Anh ta lần lượt đánh bại tất cả các võ sinh khác bằng những chiêu pháp mà ông cũng rất khâm phục. Những ngón nghề ấy ông đều biết khi ông theo học với thầy của ông là một vị sư già trên núi Vạn Hoa ở Bình Định. Thầy của ông vốn dòng dõi một danh tướng thời Tây Sơn về mai danh ẩn tích tu hành sau khi thất bại. Nhưng người võ sinh kia thi triển những ngón nghề đó sao mà biến ảo lạ kỳ và rất nhẹ nhàng nhưng vô cùng hiểm ác. Trước khi chấm nhất ông quyết định giao đấu, khắc chế những chiêu pháp thiếu âm đức để mong góp một chút đức cho anh ta sau này. Võ trường sôi động hẳn lên khi quan chánh chủ khảo trực tiếp xuất đài đối diện khảo hạch quyền pháp tuyệt chiêu của võ cử số một trường thi. Giắt gọn thân áo thụng vào đai lưng, thắt chặt sợi dây cột bối tóc củ hành, thay đôi hài quan bằng giày võ, ông ung dung bước xuống đài, vừa đi vừa vận khí điều hòa kinh lạc. Vuốt chòm râu đã lốm chốm bạc suôn đuột, ông dõng dạc cho phép anh ta xuất trước ba chiêu. Hoá giải ba chiêu đầu một cách dễ dàng, ông tung ra một chiêu thăm dò nhưng rất khó phá, anh ta cũng nhanh chóng thoát được và đáp trả ông bằng một loạt các đòn khác. Cuộc đấu bắt đầu đi vào một nhịp điệu khác, nhanh, mạnh và dữ dội. Càng đánh ông càng khẳng định nhận xét về sự thiếu đức trong các đòn đánh của anh ta. Hình như đã có lần thầy ông và bạn bè giang hồ nói về một chi phái của một vị võ sư danh tiếng ở miền Nam Trung Quốc chuyên dạy học trò các đòn sát thủ, thích đánh hạ làm nhục các phái khác bằng những chiêu pháp mà người học võ không bao giờ dùng đến nếu không vì việc bảo vệ mình và người khác trong lúc thập tử nguy nan trước cường địch. Ông cũng đã từng dùng khi giết cọp cứu Vua chứ chưa bao giờ sử dụng lại. Vừa giao đấu ông vừa tìm cách hóa giải nhẹ nhàng các thế độc mà anh ta tới tấp đánh, con mắt của anh ta khi ra đòn lạnh như băng, con mắt này chắc là kết quả quá trình anh ta chuyên tập về đêm. Những thế đánh của ông rất hiểm hóc nhưng không độc ác làm cho anh ta càng hăng say tấn công và đã bị ông đánh một đòn rất mạnh vào ngực làm thối lui ba bộ. Đúng ra với đòn này ông đã hạ gục đối thủ nhưng ông không chụm đầu ngón tay mà dùng ức tay, chỉ tạo ra lực va chạm lớn không tập trung đánh vào đại huyệt vùng ức. Mỗi lần ông thường đòn hoặc chỉ dừng lại mang tính đe nẹt cả võ trường đều vang lên tiếng trầm trồ xuýt xoa. Nhưng không ngờ lúc ông định dừng trận đấu thì ông bị dính một đòn rất nặng của anh ta, thối lui đến sáu bộ và làm giảm nhịp kinh mạch rất nhanh. Mọi người không thể ngờ ông bị dính đòn nên lại cho là ông nhường, còn ông, ông biết rõ mình bị thương tích trầm trọng thế nào do đòn có lực rất mạnh lại đánh trúng tử huyệt. Với người thường về đến nhà ắt chết, còn ông không biết sẽ cầm cự được bao lâu. Khoá đó ông chấm anh ta đoạt giải nhất nhưng ông mật tấu với Vua về đạo đức của anh ta để khi sử dụng khỏi bị lầm. Ông cho người dò hỏi thì biết chắc chắn anh ta học võ của ông thầy phương Bắc chuyên những ngón đòn sát thủ. Nhưng có một chuyện ông không thể ngờ được là anh ta lại là con của viên quan hộ giá bị giáng chức rất nặng, sau vụ săn cọp ngày trước. Người cha uất ức cho con tìm thầy độc, đòn độc, học hỏi mong có ngày lập được công trạng như ông. Nhưng cũng chính người cha đó đã đưa con cháu vào chỗ tuyệt tự vì khi học võ công loại này phải uống một số thuốc khiến không thể có con nên tâm tính thay đổi rất tàn bạo, chiêu pháp và tâm pháp rất âm quái sẽ gây nên đại họa sau này.
Làm quan thêm hai năm nữa, ông cáo quan hưu trí điền viên, đem theo cả gia đình về quê, ông dạy cho lão toàn bộ tuyệt kỹ công phu một đời đã từng thi thố và cho lão biết rõ chính tà, dặn lão mọi chuyện hậu sự mai sau phải giúp dân ra sao. Cú đòn độc hiểm ấy đã hẹn giờ chết cho ông nên ông đã bí mật liên hệ các nơi, những đồng môn, đồng liêu và học trò các khoá ông nâng đỡ để chuẩn bị cho cuộc trả thù không chỉ vì tình riêng. Anh chàng võ cử kia ra làm quan và giúp việc rất đắc lực cho các quan Tây trong việc hại dân hại nước nên cả bè đảng đó được cha con ông đưa vào vòng ngắm. Một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, ông chết vì tâm lực không sao chống nổi sự tàn phá ngầm sau khi dính đòn vào đại tử huyệt. Lo tang cha xong, lão lên đường vào xứ Bình Định tìm đến những ông thầy võ mà cha dặn rèn luyện thêm các ngón nghề tuyệt luân côn quyền đấu pháp, học những cách cứu người bị đả thương trong ba năm thì lại khăn gói ra đi.
Việc đầu tiên mà lão làm là giết tên tấn sĩ võ bây giờ là quan Tổng đốc một vùng chuyên đàn áp các nghĩa binh chống Pháp. Mặc dù háo sắc vô độ nhưng tuyệt nhiên hắn không bao giờ có con nên càng ngày hắn càng tàn bạo đến khủng khiếp. Cả đám con cháu trong họ và lũ lâu la thân tín cũng được hắn truyền dạy thứ võ công hại người đó. Vì thế lão phải tìm mọi cách tiêu diệt nó cho bằng được. Và cái ngày báo thù đó được lão suy tính và thực hiện tại chính chỗ ăn chơi hành lạc của nó. Hôm đó lão đón trước ra tay điểm huyệt một người hầu nam và cải trang để tiện bề áp sát. Khi bọn lâu la đứng ngoài, một mình hắn vào cùng một cô đầu để làm cái chuyện khốn nạn đó thì lão bưng trà vào. Hắn trợn mắt đuổi lão ra vì làm mất hứng bằng một cú gạt tay rất mạnh, như một đòn chém ngang làm lão phải tung cả khay lên rồi bay người đón lại, đặt ngay ngắn trên bàn ngoài. Hắn trợn mắt vì tên người hầu vô lễ nên bay tới đánh lão tới tấp vừa né tránh vừa nhử hắn lùi xa cửa lão bắt đầu phản đòn, đánh toàn đòn độc. Nhìn ánh mắt lạnh lùng của hắn lão càng quyết tâm diệt bằng được tên đại gian ác này. Chỉ vài phút sau lão đã đánh trúng cả ba đại tử huyệt trên người hắn làm hắn quay lơ ra ngáp ngáp, máu từ thất khiếu bắt đầu ứa ra, lão điểm vào các đại huyệt để không ai còn có thể cứu cho nó được nữa, gài lại mảnh giấy ghi rõ tội ác với nhân dân mà nó đã từng gây ra và thoát đi qua ngả cửa sau. Lúc bọn lâu la được cô đầu báo thì nó chỉ còn hấp hối, đưa về phủ vài hôm thì chết. Gia đình và bọn lâu la không dám nói lý do vì lão đã hăm sẽ giết sạch, chỉ đồn nó đi chơi gái bị bệnh chết.
... Sau năm 1945, lão đã trên ba chục tuổi và tham gia Vệ quốc đoàn, thuộc đội biệt động cảm tử chuyên diệt ác trừ gian trên địa bàn cả ba tỉnh Bình Trị Thiên. Với biệt tài thoắt ẩn thoắt hiện, võ nghệ cao cường của mình, lão cùng đồng đội vào ra các vùng tề tìm diệt bọn biệt gian, bọn hội tề gian ác, gây nên nỗi khiếp sợ kinh hoàng cho chúng. Chúng rút vào sống trong các đồn binh Pháp, ngày ngày đi gây nợ máu với nhân dân quanh vùng. Chúng treo giá đầu lão rất cao nhưng không làm gì nổi lão. Đối với bọn gian ác nhiều nợ máu, lão tìm mọi cách tiêu diệt tới cùng nhưng với tù binh thì lão lại đối xử rất tốt, nhiều người đã quay súng đi chiến đấu cùng lão. Sau năm 54 lão tập kết ra bắc, lấy vợ, có con rồi được phong quân hàm thượng úy ngay đợt phong quân hàm đầu tiên. Năm 60 lão trở về miền nam hoạt động, cấp trên lại giao cho lão chuyên đánh đặc công tại chiến trường khu V. Tại đây lão đã làm nên một huyền thoại nữa trong lòng nhân dân và chiến sĩ vùng đất võ.
Bọn Mỹ-ngụy và chư hầu đưa vào chiến trường khu V các sư đoàn quân Đại Hàn Rồng Xanh, Mãnh Hổ nhằm đàn áp nhân dân và tiêu diệt bộ đội ta. Bọn này rất giỏi võ Hàn, chuyên trị về ngoại công và rất tàn ác với nhân dân, du kích và bộ đội rơi vào tay chúng. Lão xin về chiến đấu nơi đây vì các tuyệt kỹ bản thân mà cha con lão học hỏi được đều từ đất này mà ra, lão coi như một món nợ mà mình phải trả, một tâm nguyện về nguồn nên đơn vị của lão lập được nhiều thành tích từ những trận đánh xuất quỷ nhập thần. Khoảng năm 66, bọn chỉ huy Đại Hàn nghe danh vùng đất võ nên bày ra lôi đài thách nhân dân trong vùng tỷ thí. Chúng lựa những đứa võ công cao cường, thường là từ tứ đẳng huyền đai Taekwondo lên sàn thách đấu, nhiều người vì tự ái, không chịu nhục được đã thượng đài và đều bị chúng đánh bại. Tin báo ra căn cứ, lão nghe anh em báo cáo kỹ rồi quyết định cải trang thành dân thường ra thi đấu. Tài nghệ của lão thì anh em trong đơn vị đều biết, nhưng lão già rồi, trên 50 lại sốt rét kham khổ lâu ngày liệu có đánh lại mấy thằng Đại Hàn to khỏe đó không. Lão nói với chính ủy là cứ yên tâm, lão không đánh thì thôi chứ đã đánh nhất định phải thắng. Chính ủy cho hai chiến sĩ trẻ nhanh nhẹn cải trang đi theo yểm hộ cho lão. Lọt vào vùng kiểm soát của địch, lão và hai người lính cải trang đi xe đò về huyện lỵ, hỏi đường tìm tới lôi đài. Lão để cả một ngày tìm hiểu địa thế chung quanh để thoát thân khi cần và xem chúng đánh đấm như thế nào với những người dân mình lên tỷ thí. Tối đó lão ăn no rồi đi nghỉ sớm để sáng mai đánh lôi đài, xóa bỏ những khoa trương của đám lính Đại Hàn và bọn việt gian bám đuôi đang cổ vũ cho thứ võ ấy. Hôm sau lão quyết định không đánh vào buổi sáng mà sẽ đánh buổi xế chiều vì khi đánh xong dễ cắt đuôi về cứ, tránh sự trả thù của bọn chúng. Ba giờ chiều, mọi người xem lôi đài đang cúi mặt xuống buồn bã vì một võ sinh người xứ Quảng vừa bị đánh gục khi thi đấu với một tên lính Đại Hàn thì một ông già trạc 55 tuổi người gầy gò, râu tóc lơ xơ nhảy lên tiếp chiến với kẻ vừa thủ thắng. Lão xưng danh là Nguyễn Vũ người Tây Sơn, Bình Định. Tên thông ngôn vừa dịch xong, tên lính Đại Hàn đã tấn công lão ngay, vẫn những chiêu cước pháp liên hoàn của dòng quyền phương bắc mà lão đã xem hai hôm nay, lão né tránh và bất ngờ hạ mình tung chân quét tảo địa thẳng vào chân trụ của hắn, thuận đà lão trở ngược chân hạ một đòn giáng long ngay vào yết hầu đối thủ khi hắn ngã ngửa do đòn quét chân đầu tiên của lão. Tên lính chỉ ặc ặc được mấy tiếng rồi nằm ngay đơ. Tiếng vỗ tay, tiếng gầm ầm ầm vui mừng hỉ hả cả võ đài. Lão chắp tay chào khán giả xong định quay lại phía tên thông ngôn nói vài tiếng để nó dịch cho đám sĩ quan Đại Hàn nghe thì một tên có vẻ là chỉ huy trong đám sĩ quan đó đã bước ra mời lão thách đấu. Qua lời tên thông ngôn, lão biết nó là chỉ huy kiêm huấn luyện viên võ thuật, kẻ bày ra trò đả lôi đài này, nó muốn đánh với lão vì sợ để đám đàn em ra đấu thua thì mất danh. Đây chính là kẻ mình cần phải diệt thẳng tay, đây là nhiệm vụ mà mình đã thống nhất với chính ủy Trung đoàn, nhiệm vụ của lão, của Trung đoàn trưởng trung đoàn đặc công quân khu V. Lão hạ người, dùng thế miêu tấn, định tâm quán thần vào từng cử chỉ của tên chỉ huy. Sau một tiếng hét man dại khô khốc là hàng loạt các thế đá dũng mãnh được nó tung ra, lão ẻo người qua về trên đôi chân nhún nhảy như thế võ say tránh né. Chỉ ít phút lão đoán định nó cậy khỏe, dữ đòn và khá tinh ranh trong thi đấu, phải biến hóa đánh địch. Liên hoàn cước pháp phương bắc gặp Liên hoàn quyền pháp phương nam của lão, tránh mũi chân địch thủ, các đòn tay của lão bao bọc kín thân mình, cùi chỏ, nhất trảo, ngũ trảo vừa đỡ vừa đánh vào các huyệt, khớp xương, chỗ hiểm trên hai chân của nó. Các đòn đá của nó yếu dần, lão bắt đầu nhập nội vì lúc này là lúc nó bắt đầu sơ hở, võ Hàn không mạnh đòn tay. Các thế đánh áp sát của lão cực kỳ nhanh và mạnh, liên tiếp trúng vào các tử huyệt trên người nó, quyền pháp của nó bắt đầu rối loạn, hai chân bị điểm huyệt chậm chạp dần, hơi thở nặng nhọc, mặt đã tái dại. Nhiệm vụ là tiêu diệt nhưng để nó chết ngay bọn lính sẽ bắn mình, để cho nó chết sau hai ngày là vừa. Mặt tên Tổng đốc mấy chục năm trước lại hiện ra, sao mà trông đáng ghét như mặt thằng sĩ quan Đại Hàn này vậy. Chỉ thoáng qua quá khứ căm hờn ấy trong đầu mà tay lão đã liên tiếp tung ba đòn vào ngực, bụng và cằm nó khiến nó loạng choạng lùi xa. Phải đánh ngay vào đại tử huyệt sau cùng hẹn giờ chết cho nó vì bọn sĩ quan đã lục tục rời bàn sẽ can thiệp. Bằng một bước nhảy nhanh như chớp, lão áp sát hạ một đòn cực hiểm vào vùng sau gáy đối phương khiến hắn khuỵu xuống. Bọn sĩ quan túa ra, lão nhảy xuống đài lẫn vào đám đông. Lão thoát về cứ bằng phương án điều nghiên ngày hôm trước. Hai ngày sau tin cơ sở báo về thằng chỉ huy đó được đưa vào Sài Gòn cấp cứu rồi cũng chết, riêng thằng lính đấu trận đầu với lão phải đem ra hạm đội ngoài khơi cấp cứu, thay ống thanh quản nhân tạo. Bọn Đại Hàn bỏ hẳn việc thi đấu võ vẽ với dân địa phương. Mấy tháng sau dân địa phương mới biết ông già Nguyễn Vũ gì đó là đặc công khu về đánh. Trận đánh này làm nức lòng quân dân địa phương, địch co cụm lại không dám nghênh ngang như trước.
Sau 75 ông về Bộ Tư lệnh làm công tác huấn luyện thế hệ lính trẻ sau này. Gần 75 tuổi ông mới nghỉ hưu tại Hà Nội vui vầy cùng con cháu.
Chuyện tôi kể trên là chuyện mười năm trước tôi gặp lão khi về làng và nghe lão kể lại. Từ ngày lão mang tấm hoành phi ra thờ tại Hà Nội, tôi có về làng mấy lần mà không gặp, hỏi mọi người cho biết lão không vào mà chỉ gửi tiền vào. Lâu lâu lại nghe có người nói lão đau nặng ở Hà Nội vì tuổi già. Năm nay cuối năm tôi về làng thì gặp con trai lão, một người đàn ông trung niên to khỏe, đĩnh đạc trong cách ăn nói đang bái tạ mọi người để ra Hà Nội. Anh hẹn ngày vào lại nơi quê cha đất tổ mà anh rất ít biết. Người đàn ông đó đi rồi tôi mới hỏi mấy bác cao niên trong họ mới hay lão đã mất ba năm rồi. Con trai lão mang hài cốt lão đã cát táng vào chôn trong nghĩa trang của họ, bên cạnh ông thân sinh "Uy dũng đẳng thần" ngày trước. Mộ ông Tứ đẳng Hộ vệ phía trước, uy nghi, thâm nghiêm hàng chữ Hán, mộ ông con đơn sơ bê-tông, gạch ốp lát phía sau, chếch bên phải, chỉ ghi dòng chữ "Đại tá đặc công Lê Tùng chi mộ", phía trên có quốc huy, phía dưới có phù hiệu binh chủng. Các cụ bảo tôi đọc di chúc của lão viết khi sắp mất nay đem về để trong tộc phổ, sau này rảnh mới chép vào phần chi phái của lão: ... "tôi một đời xa nhà, xa quê, thù cha cũng trả, nợ nước coi như là xong, công cũng đã thành, danh đã toại, con cái cũng nối nghiệp nhà, không làm hổ danh tiên tổ. Tôi chỉ có nguyện ước khi nằm xuống nơi quê người phồn hoa ba năm sau cát táng thì con cháu đem hài cốt về quê chôn bên phải mộ cha tôi. Mong các bậc trong họ không phiền hà gì, con cháu nghe lời. Đánh Pháp tôi trả nợ cho quê hương, đánh Mỹ tôi trả nợ cho dân tộc và đồng môn môn phái, nay nằm xuống chỉ mong về quê nằm nghỉ với các cụ muôn đời...". Sông vẫn chảy về xuôi, nơi cuối trời nước vẫn chảy, nắm xương vẫn mong gửi về với đất tổ. Thắp cho lão nén nhang tôi bâng khuâng nghĩ ngợi, thứ bậc trong họ lão chỉ là anh tôi nhưng ngoài đời lão là niềm khâm phục của tôi và cả mọi người trong làng. Một giọt nước trôi đi nay một hạt nước lại rơi về.
Nghe bà con ra Hà Nội đưa tang kể lại khi lão mất đồng đội chiến đấu và các môn sinh trường đặc công đến viếng đông lắm. Lão mất sau khi đi dự ngày truyền thống binh chủng về nhà chỉ vài tiếng, lão ra đi khi đang ngủ.
Huế, xuân Con Mèo