Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc

Sông Lô dậy sóng

Ðầu tháng 10,  chúng tôi  xuôi dòng từ thị xã Tuyên Quang về Bình Ca nơi ghi chiến công mở đầu của chiến thắng sông Lô trong chiến dịch Thu Ðông năm 1947. Cuối thu, bầu trời chiến khu Việt Bắc trong và xanh vời vợi. Dọc đôi bờ con sông oai hùng từng khiến thực dân Pháp năm xưa khiếp sợ, nay hiền hòa với những bãi bồi xanh mát bởi vườn dâu, bãi mía. Ngay qua khúc ngoặt của soi Tình Húc, bia kỷ niệm chiến thắng Bình Ca hiện ra sừng sững hiên ngang. Chứng tích oai hùng của một thời kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Bến Bình Ca nối liền hai bờ sông Lô, thuộc hai huyện Yên Sơn và Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang. Ðịa điểm đặt pháo bắn chìm tàu Pháp năm xưa nay thuộc thôn Thái An, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bến phà Bình Ca là một nút giao thông quan trọng trên con đường 13A (nay đổi thành quốc lộ 37) nối căn cứ địa Việt Bắc với Tây Bắc và vùng đồng bằng Bắc Bộ qua quốc lộ 2. Ðây là nút giao thông huyết mạch cả đường thủy và đường bộ của vùng tự do, án ngữ con đường chiến lược giữa  ATK và vùng trung du.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương Ðảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở lại Việt Bắc và chọn Tuyên Quang làm Ðại bản doanh để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thu Ðông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc hòng phá tan các cơ quan đầu não chỉ đạo cuộc kháng chiến của ta. Chúng hy vọng sẽ phá hoại được các cơ sở kháng chiến và tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực Việt Minh.

Khẳng định tầm quan trọng vị trí chiến lược của Bình Ca, Bộ Tổng chỉ huy đã ra chủ trương "Kiên quyết bảo vệ cửa ngõ phía tây của Việt Bắc - cũng là của ATK".

Cùng với quân, dân Việt Bắc, Tiểu đoàn 42 vinh dự được giao nhiệm vụ trấn giữ bến Bình Ca.  Tiểu đoàn đã nhanh chóng điều động các đơn vị về vị trí chiến đấu. Bằng sự mưu trí, dũng cảm sử dụng súng ba-dô-ka, ta đã bắn chìm một chiếc tàu LCVP (tàu đổ bộ loại nhỏ dài 11 m, chở được một trung đội, trang bị pháo 20 mm, trọng tải tối đa 15 tấn). Chiến công này được ghi nhận là chiến công đầu tiên của quân đội ta trên mặt trận sông Lô. Ðây  cũng là chiến công của lực lượng bộ binh bắn chìm chiếc tàu chiến đầu tiên của địch. Chỉ với một trận đánh quyết liệt,  bắn  chìm tàu chiến, đập tan cuộc đổ bộ của thực dân Pháp, tiểu đoàn đã dập tắt ý đồ của địch định thọc vào căn cứ Tân Trào. Nhiệm vụ giữ vững cửa ngõ phía tây của ATK  được hoàn thành, góp phần duy trì hoạt động bình thường của các cơ quan đầu não kháng chiến, tạo điều kiện cho nhân dân khu căn cứ sơ tán, cất giấu tài sản, lương thực và tổ chức đánh địch.

 
Dây chuyền sản xuất xi-măng công suất 270 nghìn tấn/năm của Công ty cổ phần xi-măng Tuyên Quang đang được khẩn trương hoàn thành chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày chiến thắng Việt Bắc.

Chiến thắng Bình Ca được Thượng tướng Song Hào (khi đó là Chính ủy Quân khu X) viết trong hồi ký "Dưới ngọn cờ vinh quang của Ðảng" như sau: "Tin chiến thắng Bình Ca được nhanh chóng loan truyền khắp nơi và đã làm cho tất cả các đơn vị từ chủ lực tới dân quân, từ bộ binh tới pháo binh, công binh đều nức lòng và tin rằng: Ta có đủ mưu trí và sức mạnh để đánh được giặc. Khu ủy, Bộ Chỉ huy Quân khu X đã khẳng định: "Chiến thắng Bình Ca đã mở đầu cho một loạt những chiến thắng của Mặt trận. Chiến thắng Bình Ca đã báo hiệu một sự chuyển biến mới về tình hình chiến cuộc. Quân Pháp không còn có thể bình yên vô sự tiến vào khu X như vào đất không người nữa".

Cũng trên dòng sông Lô, để chặn đường rút của địch, chiều 10-11-1947, tại Khe Lau (thuộc xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn) pháo binh ta đã có một chiến thắng giòn giã. Với phương châm: "Ðặt gần, bắn thẳng", khẩu sơn pháo được đặt bên hữu ngạn sông Lô, chỗ  đặt pháo là sườn dốc đứng, đổ thẳng xuống ven sông nên các chiến sĩ đã phải cải tạo địa hình, đào đất, gánh đất đắp thành bệ cho  chắc. Bộ binh, du kích bố trí trận địa cả hai bên sông, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ pháo binh. Các trận địa đều được nguỵ trang kín đáo, bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ. Khoảng 14 giờ chiều, tàu địch rút từ Chiêm Hóa ra đến ngã ba sông Lô và sông Gâm, đi theo hàng dọc, hai tàu đi trước, rồi chiếc ca-nô đi sau. Chờ tàu địch đến cách trận địa khoảng 150 m. Hiệu lệnh tiến công được phát ra. Một tiếng nổ vang cả quãng sông, trận đánh bắt đầu. Quân địch chưa kịp định thần thì một phát trọng pháo đã bắn trúng chiếc tàu đi đầu, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Pháo ta nổ, hai  tàu của địch biến thành hai bó đuốc khổng lồ và chìm dần, dầu loang khắp mặt sông. Nước sông Lô nổi tiếng xanh trong giờ nhuốm ánh lửa đỏ rực. Chiếc ca-nô đi sau cùng lao vào giữa đám khói lửa chạy thục mạng. Nhưng cũng chẳng thoát, nó tiếp tục bị trúng đạn, dạt sang tả ngạn, nằm đổ nghiêng. Trận đánh kết thúc rất nhanh. Bể lửa Khe Lau đã nhấn chìm hai tàu chiến và một ca-nô, tiêu diệt hơn 200 tên địch. Một tên lính Pháp chết hụt khi viết thư cho bạn đã thề: "Nếu sau này có con, tôi sẽ bảo nó đừng đến cái xứ sở khủng khiếp này". Ðây là trận đánh được Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đánh giá là một trong mười trận đánh thắng lớn của ta trong chiến dịch Việt Bắc - Thu Ðông 1947. Cũng từ đây, Trung đội pháo binh khu X được vinh dự mang tên "Pháo binh Sông Lô".

Sau chiến thắng Thu Ðông 1947, ngày 23-12-1947, tại thị xã Tuyên Quang trong lễ mừng chiến thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đọc Nhật lệnh tuyên dương công trạng của quân và dân Việt Bắc, trong đó có đoạn: Ba năm về trước đây, địa hạt Tuyên Quang là thủ đô lâm thời của khu giải phóng vừa gây dựng. Ngày nay, Tuyên Quang cùng Ðoan Hùng, Khe Lau trên bờ sông Lô đã oanh liệt thắng thủy quân và lục quân của giặc. Tuyên Quang oai nghi và hùng dũng đã nêu cao tinh thần độc lập, bất diệt của Việt Bắc, của Việt Nam.

Ðổi thay trên quê hương  cách mạng

Sáu mươi năm đã qua,  hòa chung cùng cả nước, truyền thống cách mạng đang là động lực để vùng quê này từng ngày đổi mới. Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 14 nhiệm kỳ 2005-2010 đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ, nông lâm - nghiệp. Với bốn phương châm: Chớp thời cơ, đột phá mạnh, liên kết rộng, hợp tác sâu và hai động lực là truyền thống lịch sử - văn hóa và đại đoàn kết các dân tộc, tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành năm khâu đột phá là: quy hoạch; công nghiệp, du lịch; xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin; hoàn thiện cơ chế khuyến khích, ưu đãi, kêu gọi đầu tư và cải cách hành chính. Do đó đã tạo bước chuyển mạnh trong phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hơn 12%/năm, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhất là các chỉ tiêu trồng rừng, thu ngân sách, xuất khẩu lao động. Do có cơ chế, chính sách thu hút phù hợp vì vậy trên địa bàn tỉnh hiện nay đã có 530 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động, trong đó có nhiều dự án công nghiệp lớn được triển khai như: Nhà máy giấy và bột giấy An Hòa, vốn đầu tư hơn bốn nghìn tỷ đồng; Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa công suất 60MG, vốn đầu tư hơn một nghìn tỷ đồng, Nhà máy luyện Feromangan và các nhà máy xi-măng, đũa xuất khẩu... So với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh thì những con số này vẫn là hạn chế, song đó là kết quả đáng khích lệ, tạo bước chuyển biến tích cực trong thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các vấn đề xã hội cũng được tập trung quan tâm, công tác giảm nghèo và giải quyết việc làm được gắn chặt chẽ nên thu được nhiều kết quả. Nét nổi bật trong công tác này là huy động đồng bộ các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia cho vay vốn, hướng dẫn khoa học-kỹ thuật cho nên tỷ lệ hộ thoát nghèo bền vững tăng mạnh (số hộ nghèo từ 35% năm 2005 sẽ chỉ còn 23% vào cuối năm nay). Công tác xuất khẩu lao động cũng đã góp phần không nhỏ, chỉ đến hết năm 2006, toàn tỉnh có hơn 5.000 lao động xuất khẩu, cũng trong năm đó người lao động đã gửi về 245 tỷ đồng tương đương thu ngân sách của tỉnh, một con số rất có ý nghĩa với những hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, kinh doanh.

Chiến dịch Việt Bắc - Thu Ðông năm 1947 với chiến thắng Bình Ca, Khe Lau, Km 7... lẫy lừng vẫn còn vang dội tới ngày hôm nay. Tinh thần quả cảm của các chiến sĩ sông Lô mãi mãi kết tinh và phát huy trong sự nghiệp cách mạng của Ðảng bộ và nhân dân Tuyên Quang. Xứng đáng với mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người về thăm tháng 3-1961: "Trước kia, đồng bào tỉnh ta đã góp phần xứng đáng trong Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến cứu nước. Ngày nay, tôi chắc rằng đồng bào ta sẽ phát huy truyền thống anh dũng sẵn có và góp phần nhiều hơn nữa trong công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội".

Có thể bạn quan tâm