Chúng ta đều biết đồng chí Trường-Chinh là một người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo kiệt xuất, có uy tín lớn của Ðảng và Nhà nước ta; nhà văn hóa và nhà báo lớn; nhà thơ đầy tâm huyết, với bút danh Sóng Hồng.
81 tuổi đời, 63 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trái tim của đồng chí luôn dạt dào tình cảm, trĩu nặng lòng yêu nước, thương dân, tràn đầy chủ nghĩa nhân văn cao cả.
Nhân kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của đồng chí Trường-Chinh, giữa những ngày Tết Ðinh Hợi này, chúng tôi xin nêu mấy nét đẹp rất đáng trân trọng trong tâm hồn, tính cách của đồng chí, của nhà thơ Sóng Hồng đối với đất nước, con người khi mùa xuân về, mở đầu một năm mới với bao tin tưởng, hy vọng.
Ðọc những bài thơ Sóng Hồng viết trước Cách mạng Tháng Tám, 1945, tôi rất thích câu thơ "Huýt sáo trên đường đời vui tuổi hai mươi", vì nó nói lên sự hồn nhiên, say mê hoạt động của một chàng trai tuổi còn rất trẻ mà dồi dào nhựa sống và nhiệt huyết cách mạng.
Có thể nói chủ nghĩa lạc quan cách mạng đã góp phần chắp cánh, tiếp thêm sức mạnh cho đồng chí Trường-Chinh "dấn thân" vào con đường cách mạng, rồi trở thành một cán bộ chủ chốt trong Bộ Tham mưu của Ðảng ta.
| Xuân đã về SÓNG HỒNG Sáng nay Xuân đã về, Hỡi chiến sĩ ! Chiếc cốc đời đang tràn đầy máu lệ Nên sáng hôm nay nàng Xuân về Ngoại thành Hà Nội, tháng 2 năm 1943 |
Ðồng chí Hà Thị Quế, một cán bộ lão thành cách mạng, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn nhớ như in chuyện ăn Tết Giáp Thân 1944 ở vùng An toàn khu II, gồm các huyện Phú Bình, Phổ Yên (Thái Nguyên), Hiệp Hòa (Bắc Giang), thật là cảm động.
Suốt bốn ngày Tết xa nhà, đồng chí Trường-Chinh, đồng chí Hoàng Quốc Việt và một số đồng chí khác trong lớp huấn luyện phải sống trong cảnh thiếu thốn, mỗi ngày ăn một bữa cơm, một bữa cháo. Bà cụ chủ nhà sáng sáng lại ra đồng hái đầy một rổ rau lang mang về luộc chấm muối cho mọi người ăn, đỡ đói lòng. Ðể tạo không khí phấn khởi cho các học viên, trong đó có đồng chí Hà Thị Quế, đồng chí Trường-Chinh đã khởi xướng ra việc làm câu đối và làm thơ đón xuân mới. Ðồng chí đã xung phong đọc hai câu đối hóm hỉnh sau:
Xuân sắc, xuân sầu, xuân xúng xính
Tết tình, tết tỉnh, tết tung tăng.
Rồi đồng chí giải thích: "Xuân sắc là xuân về, hoa cỏ tốt tươi, phô mầu sắc. Xuân sầu là chúng ta đang phải ăn cháo và rau lang trừ bữa. Xuân xúng xính là năm mới, nhiều người mặc quần áo đẹp tung tăng đi chơi Tết. Còn vế thứ hai thì chắc các đồng chí đã hiểu, tôi chỉ nói thêm là chúng ta vẫn phải tỉnh táo để đối phó với mọi tình huống, đón đợi thời cơ. Tết tỉnh là thế...".
Mọi người đều cười vui với người anh lớn trong đại gia đình cách mạng, dường như quên đi cái đói, cái rét, cái mệt trong mấy ngày đầu xuân.
Trên cương vị Tổng Bí thư, anh Nhân (tên thân mật của đồng chí Trường-Chinh), trong những ngày tiền khởi nghĩa đã lăn lộn, nằm gai nếm mật ở An toàn khu để bám dân, bám phong trào, đón chờ thời cơ, quyết giành toàn thắng cho cách mạng. Xuân mới Quý Mùi, 1943 về "Gieo mầm non, hoa thắm khắp sơn khê", trong một căn nhà gianh của một gia đình cơ sở cách mạng ở ngoại thành Hà Nội, đồng chí nhớ đến các chiến sĩ cách mạng với tất cả sự chân thành, lạc quan:
... Sáng hôm nay nàng Xuân về
Với pháo nổ
A! Những chuỗi cười trong như pha lê
Như thúc giục muôn người ra hoạt động
Trong năm mới long lanh màu hy vọng.
Bước sang năm 1945, tình hình trong nước và thế giới chuyển biến mau lẹ, có lợi cho thế và lực của cách mạng nước ta. Chớp thời cơ thuận lợi có một không hai ấy, Ðảng ta và Tổng bộ Mặt trận Việt Minh đã kịp thời kêu gọi toàn dân vùng dậy giành độc lập, tự do hoàn toàn cho dân tộc. Trong bài thơ Ðứng lên viết tháng 1-1945 tại Phúc Yên, nhà thơ Sóng Hồng đã thúc giục đồng bào:
Xiềng xích chặt kỳ hết,
Gông cùm đập cho tan!
Tiêu trừ quân cướp nước.
Ðừng tha lũ Việt gian!
Thật đáng khâm phục đồng chí Trường-Chinh, mặc dù phải bận trăm công nghìn việc, giữa lúc tình thế cách mạng đang "nước sôi lửa bỏng", vậy mà đồng chí vẫn bình tĩnh, sáng suốt và tâm hồn luôn thư thái, đằm thắm, hồn hậu. Có lần đồng chí mặc áo the, che ô đen, đi đò qua sông Hồng, từ bến Sù sang bên Võng La (huyện Ðông Anh, Hà Nội), thuyền phải dóng ngược dòng. Con thuyền gặp gió xuân, căng buồm rẽ sóng, lướt nhanh. Giữa cảnh trời mây, sông nước và hai bên bờ sông ngát xanh biêng biếc bãi dâu trải dài, bỗng thấy hợp cảnh, hợp tình quá, đồng chí liền say sưa đọc bài thơ Tràng giang, một kiệt tác của Huy Cận cho hai chàng lái đò, là quần chúng cách mạng nghe:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Sau này, gặp tác giả, đồng chí đã kể lại kỷ niệm đó và bình luận: "Sao mà bài thơ của anh hay thế, sao mà tiếng Việt đẹp thế, sao mà quê hương ta đáng yêu thế...".
Là một nhà văn hóa lớn, đồng chí Trường-Chinh đã đồng cảm sâu sắc với các nhà thơ lớn, kiệt xuất của dân tộc ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... Ðặc biệt, đồng chí rất trân trọng nhân cách, khí phách và tài thơ văn của Cao Bá Quát (1808 - 1855) - "một thiên tài kỳ vĩ của văn học Việt Nam" (chữ dùng của GS, TS Mai Quốc Liên). Trong năm 1985, đồng chí đã dành nhiều tâm sức để hoàn thành bản dịch một bài thơ xuân bằng chữ Hán của Cao Bá Quát. Nguyên văn bản dịch như sau:
Một ngày sau tiết Lập xuân
Hôm trước xuân về tan gió lạnh
Sáng nay muôn tía sánh ngàn hồng
Việc đời ví được như hoa nhỉ
Mưa gió qua rồi đẹp núi sông
Nếu không thấu hiểu sâu sắc về thân thế và sự nghiệp của Chu Thần (tên tự của Cao Bá Quát) thì nhà thơ Sóng Hồng khó có thể có một bản dịch sát nghĩa và khá hay như vậy.