Đó là nhận định của nhiều nhà chuyên môn tại cuộc hội thảo chuyên đề về tranh sơn dầu đương đại vừa tổ chức cuối tuần qua tại Hà Nội.
Rầm rộ nhưng vẫn thiếu vắng tên tuổi lớn
Triển lãm sơn dầu toàn quốc do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm phát động, tiếp nối thành công từ hai cuộc triển lãm chuyên đề chất liệu gồm sơn mài năm 2006 và lụa năm 2007 đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo họa sĩ. Con số 1030 tác phẩm của 549 tác giả thuộc 45 tỉnh thành trong cả nước gửi tham dự đã gây bất ngờ cho chính ban tổ chức.
| Chợ tình (Đỗ Trung Kiên). |
Hội đồng nghệ thuật cho biết, họ đã rất khó khăn để chọn ra 170 tác phẩm triển lãm. Dự kiến ban đầu sẽ chọn ra khoảng từ 250 đến 300 tác phẩm giới thiệu trước công chúng của ban tổ chức đã không thực hiện được. Bởi các tác phẩm dự thi chủ yếu là khổ lớn, khiến cho với chừng ấy tác phẩm, ban tổ chức đã không tìm ra một phòng triển làm nào đủ chỗ để trưng bày. Dự kiến ban đầu là trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật cũng đành phải dời về Khu triển lãm Vân Hồ, với 5 phòng trưng bày của hai tòa nhà.
Không chỉ hùng hậu về số lượng tác giả, tác phẩm tham dự, “hoành tráng” về cách thể hiện tác phẩm và triển lãm, “cuộc ra quân” lần đầu tiên của riêng chất liệu sơn dầu với quy mô toàn quốc còn góp mặt đủ các thế hệ họa sĩ.
Từ những tác giả sơn dầu quen thuộc, đã định hình phong cách như Lê Anh Vân, Lê Huy Tiếp, Đặng Quý Khoa, Nguyễn Lương Tiểu Bạch, Vi Kiến Thành, Nguyễn Trung Tín, Phạm Lực… đến những cái tên mới xuất hiện từ nhiều địa phương khác như Chế Thị Kim Trung (Ninh Thuận), Lê Nguyễn Thảo My (Gia Lai), Nguyễn Hữu Phương (Long An), Hoàng Trung Dũng (Thái Bình), Nguyễn Văn Lê (Lào Cai)… đều có tác phẩm mới sáng tác, nhiều tác phẩm dường như còn chưa khô màu, để tham gia dự thi.
Tuy nhiên, dù rầm rộ là vậy, nhưng một điều dễ nhận thấy là tại triển lãm này vẫn thấy thiếu vắng những cái tên họa sĩ sơn dầu đương đại có phong cách biểu đạt và tư duy mới mẻ .
| Chợ cá (Phạm Lực). |
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Trang Thanh Hiền nhận xét: “Nếu đây là một triển lãm mang tính chất tổng kết một thế kỷ sáng tác của các họa sĩ Việt Nam trên chất liệu sơn dầu, thì có lẽ thiếu những tác phẩm mang tính lịch sử. Còn nếu đây chỉ là những sáng tác mới nhất, thì tính chất phong trào lại nổi bật, dường như vắng bóng những tiêu điểm cũng như những gương mặt hiện đại đang làm nên hình ảnh mỹ thuật của mỹ thuật Việt Nam đương đại được quốc tế biết đến”.
Về điều này, chị cũng đưa ra ý kiến, nên chăng cần thay đổi cung cách tổ chức triển lãm, không chỉ thông báo rộng rãi để các nghệ sĩ gửi tranh tham dự, mà ban tổ chức nên chủ động mời họ, chọn lựa tác phẩm tham dự, để có thể tạo dựng một cuộc triển lãm có chất lượng hơn và có cái nhìn toàn diện hơn.
Chưa vượt qua đỉnh cao của thế hệ trước
| “Trong điều kiện hiện nay, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm đã cố gắng tổ chức được ba triển lãm chuyên đề về sơn mài, lụa và sơn dầu trong ba năm liền để công chúng có điều kiện theo dõi quá trình phát triển của đời sống mỹ thuật là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, các triển lãm cũng cho thấy đã đến lúc cần phải thay đổi quan niệm về cách tổ chức hoạt động mỹ thuật có tính quốc gia như thế này. Cần thiết phải có một bảo tàng mỹ thuật hiện đại riêng để phục vụ những sự kiện mỹ thuật có quy mô lớn thay vì phải chạy quanh tìm địa điểm mà không phù hợp tiêu chí không gian, ánh sáng và an ninh. Cần thiết phải có một đội ngũ chuyên trách về tổ chức-trưng bày mỹ thuật chuyên nghiệp chứ không phải nặng tính nghiệp dư như hiện nay”. – Nhà nghiên cứu Phạm Quốc Trung. |
Du nhập từ phương Tây vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cho đến nay đã tồn tại hơn một thế kỷ, kỹ thuật vẽ sơn dầu không còn xa lạ hay khó khăn gì đối với họa sĩ Việt Nam. Từ những tác phẩm đầu tiên như Chân dung cụ Tú Miền (1896), Bình văn (1905) của họa sĩ Lê Huy Miến, đến những tác phẩm của các họa sĩ khóa đầu trường Mỹ thuật Đông Dương, sơn dầu đã đi vào đời sống hội họa Việt Nam và trở thành chất liệu sáng tác chủ lực. Những thành tựu đầu tiên của sơn dầu được ghi dấu đậm nét bởi những tài năng như Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Lê Phổ, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Sáng…
Tuy nhiên có thể nói rằng giai đoạn phát triển bùng nổ của sơn dầu là vào thời điểm sau đổi mới 1986, mà các nhà phê bình gọi là thời kỳ mỹ thuật hậu hiện thực XHCN. Theo tác giả Phạm Quốc Trung, thời kỳ này có nhiều gương mặt nghệ sĩ trẻ với những thành công ấn tượng đến mức các nhà nghiên cứu phê bình gọi là “thế hệ vàng” của mỹ thuật Việt Nam thời đổi mới. “Tuy nhiên, đến triển lãm sơn dầu toàn quốc 2008, có thể mạnh dạn nói rằng “thế hệ vàng” đã hết thời, không phải vì phần lớn họ không tham gia triển lãm, mà vì cái chính là những thay đổi đòi hỏi khắt khe hơn về quan niệm so với thời kỳ trước”.
| Chân dung vùng cao |
Mặc dù đông đảo tác phẩm của nhiều thế hệ họa sĩ tham gia triển lãm, nhưng chính các họa sĩ, nhà chuyên môn và nhà phê bình mỹ thuật như Trần Khánh Chương, Lê Quốc Bảo, Lương Xuân Đoàn… đều tỏ ra khá dè dặt khi điểm ra những tác phẩm thật sự xuất sắc.
Họ đều nhận xét rằng, những tác phẩm “đáng kể” tại triển lãm chủ yếu vẫn là của các họa sĩ từng quen biết như Lê Anh Vân, Lê Huy Tiếp, Nguyễn Trung Tín, Trần Thành… Bên cạnh đó cũng có thể đặt hy vọng vào một số gương mặt mới như Trần Quốc Tuấn, Bùi Văn Kiên, Phan Thái Hoàng, Ngô Văn Sắc, Nguyễn Thị Thu Lan… Phần còn lại, nhìn chung không có gì mới lạ. Chưa kể, trong triển lãm còn có nhiều tác phẩm đã gặp đâu đó ở những triển lãm khác. Những tác phẩm khá nhàm và quá quen thuộc với tư duy lấy cái đẹp và sự hài hòa làm tiêu chí hàng đầu. Các tác giả đã định hình một phong cách nghệ thuật sơn dầu ít nhiều chưa tự vượt chính mình, còn các tác giả mới thì chưa tới tầm.
Phó Vụ trưởng phụ trách văn hóa văn nghệ, Ban Tuyên giáo trung ương - hoạ sĩ, nhà phê bình mỹ thuật Lương Xuân Đoàn nhận xét, qua triển lãm có thể thấy một mặt bằng đầy đặn, đầy đủ và đa dạng nhưng lại không có dấu ấn nổi bật, không đủ mở ra một trang mới cho nghệ thuật sơn dầu.
Đều đều, nhàn nhạt, ít sự nổi bật, đó có lẽ cũng là tình trạng chung của nghệ thuật Việt Nam hiện nay - ông nói.