Học xong đại học, chị Tú Anh công tác trong ngành du lịch với công việc của một hướng dẫn viên.Công việc này đã tạo điều kiện cho chị đi khắp mọi miền đất nước. Mỗi lần đưa du khách đến thăm các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền… nhìn những con nghê gỗ (hay gốm, đá...) hỏng bị vứt vào một xó, hoặc vứt lỏng chỏng bên bờ ao, vệ cỏ,… chị cảm thấy không khỏi “tội nghiệp” cho những linh vật thời trước này.Từ đó, chị khao khát được nâng niu những linh vật của một thời mà về sau chị “hiểu ra” là mình lưu giữ lại một phần văn hóa tâm linh trong tâm hồn của người Việt xưa. Điều này đã thôi thúc chị đến với việc tìm và sưu tầm những con nghê, linh vật thuần túy Việt Nam, có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, đuôi dài vắt ngược lên lưng.
Hiện giờ, trong nhà chị có hơn 100 con nghê bằng đá, gốm, gỗ, đất, đồng với đủ loại kích cỡ, mầu sắc,... Những con nghê với đôi mắt to, cái miệng như đang cười được chị xếp thành hàng ngay ngắn trên ngăn kệ. Mỗi ngày, chị lại đến bên chúng ngắm nghía, vuốt ve. Có thời gian rỗi rãi, chị lại hướng dẫn rồi giảng giải cho khách đến thăm về căn duyên đã giúp chị tìm được những con nghê này. Nhìn cách chị nâng niu, ưu ái những linh vật đã bị thời gian làm cho sứt mẻ ít nhiều mới hiểu được lòng của chị, một người phụ nữ đã dành niềm đam mê đến nhường nào cho chúng…
Từ xa xưa, nghê là biểu tượng của sự trung thành, của trí tuệ và nó thường được làm chân giá sớ, đội giá sớ (giá sớ là một tấm bảng, dưới chân tấm bảng là hai chú nghê đỡ tấm bảng trên lưng.Khi lễ, người ta chắp hai tay trước ngực, trải sớ lên tấm bảng để đọc). Nghê còn là biểu tượng của quyền lực, uy nghiêm, tôn kính.
Ngày nay, ta còn thấy đôi nghê đá trước cửa đền Đinh Lê (Ninh Bình), đôi nghê gỗ đỡ hai cột gỗ chùa Phổ Minh (Nam Định), đôi nghê đá trong khu lăng mộ đá Bắc giang... Từ sưu tập, chị Tú Anh đã đi sâu tìm hiểu kỹ hơn về linh vật này. Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các cá nhân, có thể thấy thời thịnh đạt nhất của nghê là từ thời Lý cho đến cuối thời Tây Sơn (thế kỷ 11 đến thế kỷ 18). Trong suốt tám thế kỷ, nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ cung đình cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… cả trong những ngôi nhà dân dã ; là vật không thể thiếu ở nơi tế tự.
Nghê đã chiếm một vị trí không nhỏ trong tâm linh của người Việt xưa và việc sưu tập nghê với chị Tú Anh không đơn giản chỉ vì niềm đam mê, mà với mong muốn lưu giữ lại một góc của nền văn hóa dân tộc, nhắc nhở cho người sau giá trị đích thực của những chú nghê này. Với chị, nghê có một ý nghĩa sâu xa vì đó là một phần văn hóa Việt, đã đi vào tâm hồn người Việt như lời ca dao: “Mỗi người đều có một nghề/ Con công thì múa con nghê thì chầu”. Nếu nghê không được lưu giữ sẽ dần mất đi một biểu tượng thuần túy của người Việt Nam...