Ruộng bậc thang: Kỳ công của người Mông ở Mù Cang Chải 

Mỗi khi lúa chín, ruộng bậc thang của người Mông ở Mù Cang Chải hiện lên như những mâm xôi vàng giữa núi rừng xanh ngắt; từng bậc ruộng nối tiếp nhau đổ từ trên cao xuống như chiếc cầu thang vàng mời gọi người trần gian lên trời.

Tháng mười, vượt qua đèo Khau Phạ dài 27 km để đến Mù Cang Chải, trước mắt là một mầu vàng của lúa trải dài trên các triền núi của vùng cao, lớp nọ gối tiếp lớp kia đến bất tận, khiến anh bạn đi cùng choáng ngợp phải xin dừng xe để bấm máy ảnh lia lịa.

Khi leo lên bản Trống Tông xã La Pán Tẩn nhìn xuống mới phần nào cảm nhận được sự diệu kỳ của ruộng bậc thang nơi đây. Những mâm xôi vàng của lúa hiện lên hoành tránh giữa núi rừng xanh ngắt; từng bậc ruộng nối tiếp nhau đổ từ trên cao xuống như chiếc cầu thang vàng mời gọi người trần gian lên trời.

Phá cách của bức tranh là dòng suối Kim, như dải lụa trắng bắt nguồn từ đỉnh Nả Háng Tâu cao trên 2.600 mét, uốn lượn dọc quốc lộ 32 qua thị trấn rồi đổ về Nậm Mu của Sơn La, tạo sự điều hòa khí hậu trong vùng và nước cho sản xuất.  Người Mông ở Mù Cang Chải chiếm 92% dân số toàn huyện, gồm bốn nhóm: Mông Ðơ (trắng), Mông Lình (hoa), Mông Ðu (đen), Mông Si (đỏ), trong đó nhóm người Mông Lình và Mông Si chiếm đại đa số.

Di cư về sinh sống từ đầu thế kỷ 18, lấy nương rẫy là phương thức sản xuất và nguồn sống chính của mình; có nghề rèn đúc rất nổi tiếng với kỹ thuật khá công phu, nhiều sản phẩm nổi tiếng như: lưỡi cày, dao... trở thành thương hiệu nơi này.

Trong canh tác, do chủ yếu là đất feralit vàng đỏ phân bố ở trên độ cao 900 m, độ dốc lớn từ 30% trở lên, địa hình chia cắt mạnh, nếu để trồng lúa có tính ổn định trên đồi nương thì không thể khai khẩn theo hình thức nương rẫy. Vì vậy, người Mông đã chọn những quả đồi thấp, có diện tích rộng, độ dốc vừa phải, lợi dụng được cả nước trời (nước mưa) và nước suối dẫn từ độ cao tràn xuống ruộng thấp để khai khẩn ruộng bậc thang.

Bác Giàng Xáy Sinh, năm nay 76 tuổi, nguyên Bí thư Huyện ủy ba khóa liền, cho biết: Trước khi khai khẩn, chủ ruộng phải đi chọn đất. Nơi đó phải có nguồn nước, có khả năng tạo mặt bằng, ít cây to, cỏ mọc dầy và tốt, ít sỏi đá. Sau đó, phải lập quyền sở khai khẩn bằng cách chồng một cột đá lên cao chừng trên một mét, hay chôn một cây gỗ lớn trên vùng đất đó để làm dấu hiệu xác lập quyền khai khẩn.

Ðể tránh các rủi ro trong quá trình khai khẩn (rắn cắn, đá lăn vào người, dao phát vào chân...) theo quan niệm của người Mông là cái hồn của mình đã bỏ mình ra đi, do đó phải mời thầy mo đến cúng gọi hồn về. Thầy mo là người Mông già, được học nghề từ bé (hiện nay ở Mù Cang Chải còn rất ít), chủ ruộng chuẩn bị lễ vật gồm: một bát gạo, một chén rượu, một con gà trống, một quả trứng, một thẻ hương...

Lễ vật được đặt ngay góc ruộng nơi khai khẩn, thầy mo hua que hương lên trời đọc bài cúng và các  thủ tục khác cầu mang đến gió thuận mưa hòa, hồn người bị nạn tiếp tục nhập vào người bị hại để tiếp tục khai khẩn làm ăn; sau đó, bài cúng được nhúng rượu và đốt ngay tại ruộng, vung khắp vùng đất mong tìm sự may mắn cho các vụ mùa tốt tươi.

Do độ dốc lớn, ruộng bậc thang có chiều ngang hẹp (chỉ được vài đường bừa), độ chênh từ thửa ruộng trên với thửa ruộng dưới từ một đến một mét rưỡi, trong khi đòi hỏi mặt bằng ruộng và nguồn nước ngâm chân lúa phải đồng đều, sao cho khi có nước vào thì cả đám ruộng (một bậc thang) đều có cân bằng sóng. Vì vậy, khi san ruộng người Mông dùng cuốc bướm cào thành bờ đất, dùng chân dẫm và dùng gáy cuốc đập mạnh nén chặt bờ ruộng (bờ ruộng cao hơn mặt ruộng và rộng từ 20 - 25 cm).

Các điểm đón nước cho ruộng được lấy từ các nguồn khe phía trên, nếu vượt qua điểm trũng thì dùng cây to bổ đôi, khoét ruột làm máng dẫn nước; nếu vượt đường thì xếp đá tạo mặt bằng cho giao thông còn nước len lỏi phía dưới, tạo hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh cho việc canh tác.

Cần nói thêm, để tạo đường đồng mức cho từng mảnh ruộng, đồng bào dùng nước làm một đường cân bằng sóng, chỗ trũng thì dùng cuốc bướm cào bằng thêm; chỗ cao thì san bớt lên bờ, vì vậy cả thửa ruộng quanh quả đồi đều có nước và độ cao giống nhau, tạo ra các bậc thang đều khắp. Ngay trong cách chia nước, đồng bào Mông chỉ sẻ nước từ bờ trên xuống bờ dưới theo cách không nối liền mạch (thửa đầu sẻ đầu bờ thì thửa dưới phải sẻ ở giữa bờ, thửa kế tiếp sẻ đường nước thoát ở cuối bờ) nhằm hạn chế tối đa khi mưa lũ tạo dòng chảy mạnh gây vỡ bờ và rửa trôi hết màu.

Sự kiện danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải được Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia, được đồng bào Mông nơi đây đón nhận như một ngày hội lớn.

Hàng nghìn đồng bào từ 13 xã trong huyện trong trang phục Mông truyền thống: nữ với váy sợi lanh hoa văn sặc sỡ, cổ và tai đeo vòng bạc lấp lánh; nam trong bộ quần áo đen, vai mang khèn cùng xuống trung tâm thị trấn mừng 50 năm Ngày thành lập huyện Mù Cang Chải.

Lù cở sau lưng, tiếng khèn môi réo rắt trên các triền núi, tiếng ngựa hí xen cùng tiếng xe máy nổ giòn, nam nữ người Mông đi hội, làm dịu đi cái tên địa danh Mù Cang Chải không còn là xứ Mù "chai cẳng" phải đi bộ như ngày nào.

Và chắc rằng ai đã đến đây dịp đầu xuân cùng ngắm hoa Tớ dày, hát điệu Gầu plềnh và cùng tham gia hội Gầu tào (chơi núi đầu xuân); tháng mười cùng ngắm bậc thang trời kỳ vĩ được dệt từ những thảm lúa vàng rực rỡ; cùng chén rượu thóc giã chắc sẽ không quên ngày trở lại lần sau với cao nguyên vùng Tây Bắc.

Có thể bạn quan tâm