Quyền hạn điều tra của Bộ đội Biên phòng và Hải quan

Trên cơ sở xác định nhiệm vụ chung như vậy, pháp lệnh cụ thể hóa quyền hạn điều tra của các cơ quan đó như sau:

1. Quyền hạn điều tra của Bộ đội Biên phòng

a- Bộ đội Biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều: 119, 120, 153, 154, 172, 180, 181, 188, 192, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274 và 275 của Bộ luật hình sự xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội Biên phòng quản lý thì Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, Trưởng đồn biên phòng có quyền:

- Ðối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp vụ án, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can, tiến hành các biện pháp điều tra khác theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Ðối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp vụ án; khi xét thấy cần ngăn chặn ngay người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì giải ngay người đó đến cơ quan công an và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền; chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

b- Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, Trưởng đồn biên phòng trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó trong việc điều tra vụ án hình sự, kiểm tra các hoạt động điều tra, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, giải quyết tố cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Khi Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, Trưởng đồn biên phòng vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định ở trên và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được giao.

c - Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, Phó trưởng đồn biên phòng có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại điểm a nói trên.

d- Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục trinh sát biên phòng; Chỉ huy trưởng, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư; Trưởng đồn, phó trưởng đồn biên phòng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.

2. Quyền hạn điều tra của hải quan

Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định quyền hạn điều tra của hải quan như sau:

a- Cơ quan hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Ðiều 153 và Ðiều 154 của Bộ luật hình sự thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu; Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư; Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có quyền:

- Ðối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can, tiến hành các biện pháp điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Ðối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của hải quan, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

b- Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu; Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan; Cục trưởng hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư; Chi cục trưởng chi cục Hải quan cửa khẩu trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó trong việc điều tra vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động điều tra, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, giải quyết tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi các cấp trưởng nói trên vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được giao.

c- Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Phó Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại điểm a trên đây.

d- Các chức danh (cấp trưởng và cấp phó) nói trên của hải quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.

VŨ HOÀNG VÂN (Biên soạn)

Có thể bạn quan tâm