Quy định về biên lai thu tiền phạt vi phạm hành chính

A. Về quản lý, sử dụng biên lai thu tiền phạt vi phạm hành chính (VPHC)

1. Biên lai thu tiền phạt VPHC được quản lý, sử dụng theo quy định về chế độ in, phát hành, quản lý sử dụng ấn chỉ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 30/2001/QĐ-BTC ngày - 13-4-2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế và quy định tại Thông tư này.

2. Biên lai thu tiền phạt VPHC gồm hai loại:

a. Biên lai thu tiền phạt in sẵn mệnh giá: Mẫu biên lai quy định tại Quyết định số 122/2002/QĐ- BTC ngày 30-9-2002 của Bộ trưởng Tài chính về việc ban hành mẫu biên lai thu tiền phạt VPHC; Quyết định số 58/2003/QĐ-BTC ngày 16-4-2003 của Bộ trưởng Tài chính về việc ban hành biên lai thu tiền phạt VPHC.

b. Biên lai thu tiền phạt không in sẵn mệnh giá: Mẫu biên lai quy định tại Thông tư số 56 TTLB/TC-NV ngày 17-7-1995 hướng dẫn việc thu và sử dụng tiền phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị.

3. Khi sử dụng biên lai thu tiền phạt VPHC, người có thẩm quyền thu tiền phạt, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thu và cơ quan, tổ chức được ủy quyền thu tiền phạt phải bảo đảm quy định sau:

a. Biên lai thu tiền phạt phải được sử dụng theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn và phải dùng hết quyển này mới chuyển sang quyển khác tờ biên lai phát ra không được nhàu nát, nếu nhàu nát, hư hỏng phải được gạch chéo và lưu tại quyển để quyết toán với cơ quan giao hoặc cấp biên lai.

b. Khi sử dụng biên lai không in sẵn mệnh giá, phải viết trước mặt người nộp tiền, phải viết biên lai một lần để in sang các liên khác, bảo đảm sự khớp đúng về nội dung viết trên các liên.

c. Hằng tháng, hằng quý cơ quan, tổ chức sử dụng biên lai thu tiền phạt báo cáo với cơ quan giao hoặc cấp biên lai về tình hình sử dụng biên lai thu tiền phạt. Hết năm phải thực hiện quyết toán số biên lai đã sử dụng với cơ quan thuế (nếu nhận biên lai tại cơ quan thuế); trường hợp nhận biên lai tại Kho bạc Nhà nước thì quyết toán với Kho bạc Nhà nước để Kho bạc Nhà nước quyết toán với cơ quan thuế; số biên lai còn tồn được chuyển sang năm sau sử dụng tiếp.

d. UBND cấp xã khi thực hiện thẩm quyền xử phạt VPHC theo quy định phải sử dụng biên lai thu tiền phạt, không được sử dụng các loại chứng từ khác để thu tiền phạt đối với các vụ VPHC tại địa phương.

4. Đối với những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên sông, trên biển, những vùng đi lại gặp khó khăn không tổ chức được điểm thu, nộp tiền phạt VPHC, Kho bạc Nhà nước có thể ủy quyền thực hiện việc thu, nộp tiền phạt cho cơ quan có tư cách pháp nhân khác có khả năng thu và nộp kịp thời tiền phạt vào Kho bạc Nhà nước.

5. Khi thu tiền phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt, Kho bạc Nhà nước, người có thẩm quyền, người được phép thu tiền phạt tại chỗ và cơ quan được ủy quyền thu tiền phạt phải căn cứ vào số tiền ghi trong quyết định xử phạt để thu và phải cấp biên lai thu tiền phạt hoặc giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước (nếu tổ chức bị xử phạt sử dụng giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước để nộp tiền phạt) theo đúng mẫu quy định cho tổ chức, cá nhân nộp phạt để chứng nhận số tiền đã thu.

6. Tổng cục Thuế chịu trách nhiệm in, cấp phát và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng biên lai thu tiền phạt thống nhất trong phạm vi cả nước.

B. Về thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền phạt VPHC

1. Thu, nộp tiền phạt VPHC:

a. Việc thu tiền phạt VPHC phải căn cứ vào quyết định xử phạt VPHC của người có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 và các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về xử phạt VPHC trong từng lĩnh vực.

b. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC phải xuất trình quyết định xử phạt của người có thẩm quyền với Kho bạc Nhà nước nơi đến nộp phạt và phải nộp tiền phạt theo đúng số tiền, thời hạn ghi trong quyết định xử phạt.

c. Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm thu tiền phạt theo đúng quyết định xử phạt VPHC của người có thẩm quyền xử phạt.

d. Người có thẩm quyền thu tiền phạt khi thu tiền phạt tại chỗ trong thời hạn theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 124/2005/NĐ-CP, phải lập bảng kê biên lai thu tiền phạt và nộp toàn bộ số tiền đã thu vào tài khoản tạm thu, tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước.

đ. Cơ quan được ủy quyền thu tiền phạt phải thu đúng, thu đủ số tiền phạt ghi trên quyết định xử phạt, định kỳ nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng ủy quyền thu tiền phạt VPHC ký với Kho bạc Nhà nước ủy quyền.

e. Kho bạc Nhà nước T.Ư có trách nhiệm chỉ đạo hệ thống Kho bạc Nhà nước mở các điểm thu tiền phạt tạo thuận tiện cho người nộp phạt, hướng dẫn nghiệp vụ thu, quản lý tiền phạt bảo đảm hạch toán đầy đủ, kịp thời và quản lý chặt chẽ số tiền thu phạt VPHC.

Có thể bạn quan tâm