Đối tượng được miễn, giảm thi hành án
Theo quy định, khi hết thời hạn 5 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành các khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma túy được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện: Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn thu lợi bất chính lớn; Số tiền phạt còn lại từ 20 triệu đồng trở xuống; Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành khoản tiền phạt còn lại.
Trong trường hợp người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma túy mà chưa hết thời hạn 5 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu cũng có thể được miễn thi hành án khi có đủ bốn điều kiện: Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn thu lợi bất chính lớn; Số tiền phạt còn lại từ 20 triệu đồng trở xuống; Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền (trừ trường hợp người chưa thành niên); Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành khoản tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.
Đối với những người không phải là tội phạm về ma túy hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án ma túy nhưng là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần; lợi dụng chức vụ quyền hạn để thu lợi bất chính lớn cũng có thể được miễn thi hành án nếu hết thời hạn 10 năm kể từ ngày có quyết định thi hành án lần đầu và có đủ các điều kiện: Số tiền phạt còn lại từ 20 triệu đồng trở xuống; không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt còn lại.
Trong trường hợp chưa hết hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, ngoài điều kiện được quy định nói trên còn phải có điều kiện: Số tiền phạt dưới 20 triệu đồng, đã chấp hành 1 phần hình phạt tiền (trừ trường hợp người chưa thành niên phạm tội); Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành khoản tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.
Người phải thi hành các khoản án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt còn lại được miễn thi hành án thuộc một trong hai trường hợp sau: Đã hết thời hạn 5 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí không có giá ngạch; Đã hết thời hạn 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí có giá ngạch từ 20 triệu đồng trở xuống.
Đối với trường hợp được giảm thi hành án, cũng có các điều kiện được quy định tương tự như miễn thi hành án nhưng số tiền phạt còn lại trên 20 triệu đồng. Đối với trường hợp chưa đến hạn 5 năm hoặc 10 năm thì còn thêm điều kiện phải là người chưa thành niên phạm tội.
Thủ tục xét miễn, giảm
Hồ sơ miễn giảm phải có đầy đủ các loại giấy tờ: Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án, kèm theo các điều kiện chứng minh được miễn giảm. Trường hợp người phải thi hành án thuộc diện được xét miễn giảm thi hành án nhưng vì già yếu, bệnh tật, không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn giảm thi hành án. Đối với người phải thi hành án thuộc diện xét miễn giảm là người chưa thành niên hoặc người không có năng lực hành vi thì người giám hộ thay mặt họ làm đơn xin miễn giảm.
Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí phải có bản sao bản án, quyết định hoặc trích lục của tòa án; các quyết định về thi hành án, chứng từ thu - chi về thi hành án; biên bản xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án, trong đó biên bản xác minh gần nhất không được quá 6 tháng trước khi đề nghị xét miễn giảm; các loại giấy tờ khác đủ điều kiện để được xét miễn giảm. Đơn xin miễn giảm phải có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn, nơi người phải thi hành án cư trú.
Nếu người phải thi hành án đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức thì ngoài việc xác nhận của UBND cấp xã còn phải có xác nhận của thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với trường hợp người phải thi hành án đã lập công lớn thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan công an hoặc UBND cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh việc lập công lớn. Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc đó. Nếu người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tại, địch họa, hỏa hoạn, tai nạn thì phải có xác nhận của UBND xã nơi cư trú, cơ quan nơi người đó làm việc hoặc giám thị trại giam nơi chấp hành hình phạt tù hoặc giấy xác nhận của cơ sở y tế cấp huyện trở lên.
Thủ tục mở phiên họp xét miễn, giảm
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn xin miễn, giảm, Chấp hành viên được giao nhiệm vụ phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện và tài sản của người phải thi hành án. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù thì ngoài việc xác minh tại địa phương, thủ trưởng cơ quan thi hành án phải gửi phiếu đề nghị giám thị trại giam xác nhận những vấn đề liên quan đến điều kiện được miễn, giảm thi hành án. Giám thị trại giam được yêu cầu phải kiểm tra, xác nhận và chuyển phiếu đó cho cơ quan thi hành án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về các hồ sơ đề nghị miễn giảm và thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị của Viện kiểm sát hoặc cơ quan thi hành án. Chánh án TAND có thẩm quyền xét miễn giảm, chỉ định một Thẩm phán thụ lý. Thẩm phán được chỉ định có quyền yêu cầu Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Quá thời hạn đó mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung thì Thẩm phán có quyền trả lại hồ sơ.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán phải ấn định ngày mở phiên họp xét miễn giảm thi hành án và thông báo cho Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp biết để cử người tham gia phiên họp. Phiên họp chỉ được tiến hành khi có đại diện Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án. Trên cơ sở trình bày của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, Thẩm phán có quyền: chấp nhận toàn bộ, một phần hay không chấp nhận đề nghị miễn giảm thi hành án. Nếu Tòa không chấp nhận phải nêu rõ lý do. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định phải gửi cho đương sự, cơ quan hữu quan.
Thủ tục kháng nghị và hiệu lực thi hành của quyết định miễn, giảm
Quyết định miễn giảm của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị và hồ sơ miễn giảm của Tòa cấp sơ thẩm chuyển đến. Chánh án TAND cấp trên trực tiếp chỉ định hội đồng gồm ba Thẩm phán, trong đó có một chủ tọa để xét kháng nghị. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được chỉ định, hội đồng phải mở phiên họp xét kháng nghị có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. Cấp phúc thẩm có quyền bác kháng nghị, sửa một phần hoặc hủy quyết định của Tòa cấp sơ thẩm.
Quyết định của Tòa cấp sơ thẩm, không bị Viện kiểm sát kháng nghị, quyết định của cấp sơ thẩm bị kháng nghị nhưng được Tòa cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ kháng nghị, quyết định giải quyết kháng nghị của Tòa cấp phúc thẩm có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp phát hiện người được miễn giảm án phí có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn giảm thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn giảm phải báo cáo bằng văn bản cho người có thẩm quyền để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo thủ tục chung.
-----------------
| Nguyên tắc xét miễn giảm thi hành án Việc xét miễn, giảm thi hành án được tiến hành hằng quý trong năm, mỗi đối tượng phải thi hành án chỉ được xét miễn giảm không quá một lần trong năm. Trường hợp phải thi hành nhiễu khoản tiền phạt, án phí của nhiều bản án, quyết định khác nhau thì mỗi bản án, quyết định chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong một năm. Không xét miễn giảm đối với người đủ điều kiện được miễn giảm nhưng phạm tội mới (tính đến thời điểm xét). Người được xét miễn giảm không phải nộp lệ phí và các chi phí liên quan đến miễn giảm. |