Quảng Nam hiện có hơn 5.000 chiếc tàu thuyền đánh bắt hải sản với tổng công suất 75 nghìn CV, trong đó có 110 chiếc công suất 90 CV trở lên, mỗi năm đánh bắt từ 45 đến 50 nghìn tấn hải sản các loại. Ngoài ra, toàn tỉnh có gần 7.500 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, với sản lượng mỗi năm hơn 9.000 tấn. So với cách đây 5 năm, diện tích nuôi trồng cũng như sản lượng đều tăng gấp hai, gấp ba lần. Song, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ chế biến. Qua tìm hiểu nhiều nhà máy chế biến thủy sản trên địa bàn cho thấy, nguồn nguyên liệu tại chỗ chỉ đáp ứng từ 20 đến 30% nhu cầu. Anh Phạm Văn Quang, Giám đốc Công ty TNHH Ðông Phương, một doanh nghiệp chuyên chế biến mặt hàng xuất khẩu thủy sản tại khu công nghiệp Ðiện Nam - Ðiện Ngọc cho rằng, một ngày công ty cần từ 5 đến 7 tấn nguyên liệu để phục vụ chế biến nhưng mới đáp ứng được 30% nhu cầu. Riêng mặt hàng bạch tuộc chỉ đáp ứng 10%, còn phải đi thu mua ở các tỉnh phía nam. Do thiếu nguồn nguyên liệu tại chỗ, công ty phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài để gia công, tạo thêm việc làm cho công nhân.
Mặc dù số lượng cũng như công suất các nhà máy chế biến trên địa bàn không lớn, song do thiếu sự phối hợp gắn kết giữa nhà máy với các nhà sản xuất trong việc thu mua, tiêu thụ, cho nên nguồn nguyên liệu khai thác thường bị thả nổi trên thị trường. Do không có điểm thu mua tập trung, các doanh nghiệp, tư thương, đầu nậu từ nhiều địa phương khác đến tranh giành thu mua tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh. Bên cạnh đó, do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, phần lớn diện tích đất nông nghiệp, nhất là ở vùng ven biển, như Núi Thành, Hội An có khả năng nuôi trồng thủy sản lớn ngày càng bị thu hẹp để xây dựng các dự án công nghiệp, du lịch... Gần đây, tình hình dịch bệnh ở tôm sú thường xuyên diễn ra, riêng năm 2003 trên địa bàn tỉnh có gần 900 ha diện tích tôm nuôi bị dịch bệnh không chỉ gây thiệt hại cho người nuôi trồng, mà còn tạo sự khan hiếm nguồn nguyên liệu. Việc tổ chức khai thác, đánh bắt thiếu sự hướng dẫn theo công nghệ hiện đại, do vậy việc bảo quản và chế biến sản phẩm trên tàu không bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh, làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm... Ðây là những nguyên nhân chính tạo nên sự khan hiếm nguồn nguyên liệu chế biến trên địa bàn.
Ðể tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến cho trước mắt cũng như lâu dài, tỉnh Quảng Nam tập trung đầu tư đồng bộ, từ khai thác, nuôi trồng đến dịch vụ hậu cần nghề cá, trong đó chú trọng phát triển mạnh nghề nuôi cá nước ngọt tại các ao, hồ, phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng 65 nghìn tấn. Ðồng chí Võ Văn Năm, Giám đốc Sở Thủy sản Quảng Nam, cho biết: "Trong vài năm gần đây, ngành thủy sản Quảng Nam phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt, xem đây là bước đột phá của ngành. Chúng tôi xác định đối tượng nuôi chủ yếu là cá rô phi đơn tính và cá tra, bởi vì các loại cá này dễ nuôi, nhanh lớn, chi phí thấp, năng suất cao và ít dịch bệnh. Hơn nữa, trên địa bàn tỉnh có nhiều sông suối, ao hồ, đây cũng là lợi thế phát triển nghề nuôi cá nước ngọt... Ðây là hướng đi đúng nhằm thay thế diện tích nuôi tôm sú nước lợ đang ngày càng bị thu hẹp, đồng thời, để giảm sức ép trong khai thác do giá xăng dầu tăng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang có nguy cơ cạn kiệt.
Với tổng diện tích mặt nước các hồ chứa hơn 6.000 ha, hơn 500 ha diện tích ao hồ nhỏ và các hồ chứa đang xây dựng cùng với 6.000 ha diện tích nuôi nước lợ và hàng nghìn ha mặt nước lợ trên sông, Quảng Nam có một tiềm năng lớn cho việc phát triển nghề nuôi cá nước ngọt, như cá tra, rô phi đơn tính, điêu hồng, trôi, chép, trắm cỏ, ếch, ba ba... Hiện nay, việc phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt không còn là mô hình mà đang trở thành nghề ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh. Năm 2005, toàn tỉnh đã thả nuôi trên diện tích 4.800 ha ao, hồ, đạt sản lượng gần 600 tấn cá các loại. Xuất hiện nhiều mô hình nuôi tập trung có hiệu quả như: Nuôi và chế biến cá rô phi đơn tính tại Công ty quốc tế Vĩ Hạn, xã Bình Dương (Thăng Bình), năm 2005 công ty đã chế biến và xuất khẩu được 400 tấn; Công ty TNHH Ðông An ở Hội An nuôi 20 ha cá rô phi đơn tính, năm 2005 xuất khẩu qua sơ chế 200 tấn; Công ty TNHH Á Châu nuôi cá tra trên lồng bè và ao, dự kiến năm 2006 thu khoảng 2.300 tấn. Giám đốc Công ty TNHH Á Châu Nguyễn Hữu Hiền cho biết, công ty mới đưa vào nuôi thử nghiệm cá tra tại Khe Tân (Ðại Lộc) với 31 bè và tại Duy Trinh (Duy Xuyên), Ðiện Tiến (Ðiện Bàn) trong 5 ao với gần ba triệu con giống. Dự kiến trong tháng 6 này sẽ thu hoạch vụ đầu khoảng 2.300 tấn. Anh Hiền cho biết thêm: Nhiều khu vực dọc sông Thu Bồn, Vu Gia có thể tận dụng đào ao bơm nước vào để nuôi cá tra, cá rô phi. Nuôi cá trong ao chi phí thấp và dễ kiểm soát dịch bệnh, nên rất thuận lợi cho người nuôi. Anh đang khảo sát để tiếp tục mở rộng diện tích nuôi cá tra trong ao.
Ðể có nguồn giống phục vụ tại chỗ và cung cấp cho các địa phương trên địa bàn, ngành thủy sản Quảng Nam đang đầu tư xây dựng dự án giống sản xuất tập trung tại huyện Thăng Bình trên diện tích 30 ha, tổng vốn đầu tư hơn 10 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, ngoài 264 trại sản xuất tôm sú, có khả năng sản xuất và cung cấp một tỷ con giống mỗi năm, tỉnh còn xây dựng trại sản xuất cá giống nước ngọt tại xã Tam Ðại (Phú Ninh). Ðưa chúng tôi tham quan một vòng quanh trại giống rộng hơn 7 ha, Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư và Phát triển giống thủy sản Quảng Nam Bùi Quang Minh cho biết: Ngoài nhiệm vụ chính là sản xuất cá giống, chủ yếu là cá rô phi đơn tính để cung cấp cho các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận, mỗi năm khoảng ba triệu con giống, trung tâm còn thả nuôi cá thịt cung cấp mỗi năm 15 tấn cá rô phi và 80 tấn cá mè. Anh Minh khẳng định: "Chỉ tính riêng giống cá rô phi đơn tính, nếu có nhu cầu chúng tôi sẽ mở rộng diện tích và sản xuất bảo đảm đủ cung cấp cho nhu cầu trên địa bàn".
Có thể khẳng định, nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Quảng Nam trong vài năm gần đây đã phát triển mạnh, không chỉ tạo ra công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, mà còn góp phần tạo nguồn nguyên liệu chế biến. Tuy nhiên, quy mô nuôi còn nhỏ lẻ, chưa trở thành phong trào và không được đầu tư đúng mức, nên chưa mang tính sản xuất hàng hóa. Tỉnh cần chỉ đạo các cấp, các ngành và địa phương triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết các vùng nuôi tôm, cả nuôi nước lợ và nước ngọt, vùng ven biển và vùng hoang hóa, đồng thời, khẩn trương giao đất lâu dài để nhân dân yên tâm nuôi trồng thủy sản. Trong nuôi trồng, cần xác định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, từng địa phương và nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước. Từ đó, có hướng quy hoạch tập trung và đầu tư nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao; không ngừng nâng cao giá trị hàng hóa thủy sản bằng việc tăng tỷ trọng các đối tượng nuôi có giá trị; áp dụng công nghệ cao trong sản xuất, bảo quản và chế biến. Trước mắt, tập trung đầu tư xây dựng dự án nuôi thủy sản nước ngọt tập trung theo hình thức thâm canh để tạo nguồn nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Ðầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ưu tiên xây dựng cảng cá, âu thuyền, các công trình thủy lợi phục vụ nuôi trồng, hệ thống thông tin liên lạc để quản lý tàu thuyền và tổ chức sản xuất trên biển. Cần đầu tư phát triển đội tàu khai thác hải sản công suất lớn, được trang bị đồng bộ các thiết bị công nghệ hiện đại để vươn ra khơi đánh bắt hải sản có giá trị cao; thực hiện việc cải hoán, nâng cấp các loại tàu công suất nhỏ nhằm hạn chế khai thác thủy sản ven bờ.
Hiện nay Quảng Nam đang xây dựng và triển khai nhiều dự án nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, trong đó có các dự án lớn, như Cảng cá Cù Lao Chàm tại xã Tân Hiệp (Hội An); dự án Cảng cá An Hòa ở xã Tam Giang và âu thuyền Tam Giang (Núi Thành); dự án nuôi trồng thủy sản ở thị xã Hội An với diện tích 153 ha; khu nuôi tôm công nghiệp Bình Hải (Thăng Bình), diện tích 82 ha; khu nuôi tôm công nghiệp Vũng Lắm (Núi Thành), diện tích 118 ha; dự án tổng quan phát triển nuôi cá nước ngọt, Trại giống cấp 1 Phú Minh... với tổng số vốn đầu tư hơn 100 tỷ đồng. Ðối với diện tích tôm sú, tỉnh chủ trương giữ ổn định không phát triển thêm. Một số diện tích do ô nhiễm dịch bệnh sẽ chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Loại tôm này tuy kích cỡ nhỏ hơn tôm sú nhưng nuôi được ở mật độ dày và nhiều vụ trong năm (4 vụ so với 2 vụ tôm sú), năng suất cao (khoảng 10 tấn/ha) và ít dịch bệnh. Hiện nay toàn tỉnh có 5 ha diện tích tôm thẻ chân trắng, sắp đến sẽ phát triển lên khoảng 100 ha. Tỉnh có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt trên địa bàn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư nuôi trồng thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh.