Bên cạnh những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, hiện nay, nhiều nhóm, đội nghệ thuật dân gian đã được thành lập, miền bắc có: múa rối nước, hát quan họ, hát ca trù, hát xẩm; miền trung có: nhã nhạc cung đình, ca Huế, hát bội, bài chòi vào Nam Bộ thì có thêm cải lương và đờn ca tài tử...
Nhìn chung, hoạt động của các đội nghệ thuật này đã làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đồng thời giới thiệu, quảng bá nền văn hóa Việt Nam với nhiều người nước ngoài đến nước ta.
Các địa chỉ văn hóa: Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ở Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc ở Thái Nguyên, Bảo tàng Chăm ở Ðà Nẵng và các di sản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Khu di tích Mỹ Sơn, đô thị cổ Hội An, v.v. đã làm cho du khách và những người nước ngoài hiểu được phần nào nền văn hóa truyền thống đặc sắc và đậm đà bản sắc của dân tộc.
Tuy nhiên, việc giới thiệu và quảng bá văn hóa Việt Nam ở trong nước và ngoài nước còn bộc lộ những bất cập trong nhận thức về bản sắc dân tộc, truyền thống, cách tân và thế nào là đông-tây kết hợp trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Rõ ràng đây là một vấn đề quan trọng được các nhà nghiên cứu và những người làm công tác văn hóa - nghệ thuật quan tâm. Vấn đề giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam rất đa dạng và có nhiều phương thức, nhiều hình thức, từ đơn giản đến phức tạp, từ những việc lớn đến những việc nhỏ như ứng xử văn hóa trong giao tiếp giữa chủ và khách.
Theo phong tục Việt Nam, từ xa xưa đã có câu "Miếng trầu là đầu câu chuyện" vì thế mà trong hát quan họ có bài "Mời thuốc, mời trầu". Cùng với miếng trầu, hoặc điếu thuốc là nụ cười tươi- một thông điệp tình cảm. Nụ cười là một nét văn hóa, một ứng xử văn hóa đẹp của người Việt Nam. Nhưng chỉ có nụ cười không thì cũng chưa đủ trong giao tiếp, quảng bá văn hóa mà còn phải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa trong phạm trù văn hóa.
Chính vì thế mà mỗi sự kiện lớn, nhỏ về chính trị, ngoại giao, kinh tế, đều được các nhà tổ chức sử dụng văn hóa như một phương tiện để hỗ trợ cho công việc của mình. Thể hiện rõ rệt nhất trong những đêm văn hóa nhân Năm APEC Việt Nam 2006 vừa qua.
Các hoạt động này diễn ra sôi động tại Hội An, Ðà Nẵng và nhất là ở thủ đô Hà Nội, mà tâm điểm là Trung tâm Triển lãm nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư) với đêm khai mạc "Hình ảnh APEC và Di sản văn hóa Việt Nam" và tiếp theo là "Ðêm di sản Việt Nam" với những chương trình như nghệ thuật lân- sư- rồng, nghệ thuật trà đạo, hòa tấu nhạc dân tộc, nhạc cung đình Huế, hát then, hát trù, đàn ca tài tử Nam Bộ, múa cánh diều quê hương; trang phục dân tộc: yếm đào, áo dài truyền thống, lễ phục hoàng cung do 15 người đẹp các vùng kinh đô trình diễn.
Ngoài ra, còn có những phòng trưng bày văn hóa nghệ thuật của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Huế, v.v. từ thủ công mỹ nghệ, đến nghệ thuật thư pháp, thêu tranh, vẽ tranh dân gian, múa rối nước, trang trí nội thất, ẩm thực. Khiêm tốn và dễ thương nhưng lộ rõ nét văn hóa nông thôn miền bắc là khu "chợ quê" được bày biện đủ thứ hàng tiêu dùng và ẩm thực của người nông dân Việt Nam xưa.
Có thể nói, nhiều nét đặc sắc trong di sản văn hóa Việt Nam đã được trình bày và trình diễn ở Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam trong Tuần APEC ở thủ đô Hà Nội. Quảng bá văn hóa Việt Nam tại APEC 2006 còn có nhiều hoạt động: tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu phố cổ Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học; thu hút hàng nghìn người xem, đặc biệt là người nước ngoài. Tại TP Ðà Nẵng, nhiều khách nước ngoài dự Hội nghị APEC khi xem tuồng đã cho rằng, đây là một khám phá thú vị.
Ðặc biệt đêm Gala Diner tại Trung tâm Hội nghị quốc gia với chương trình nghệ thuật đậm đà bản sắc như: hòa tấu, độc tấu nhạc dân tộc, trình diễn nhã nhạc cung đình, múa lục cúng hoa đăng... đã gây nhiều ấn tượng với các nhà lãnh đạo của 21 nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.
Như vậy, việc quảng bá văn hóa dân tộc trong những sự kiện là vô cùng cần thiết, vì qua đó, người nước ngoài có cơ hội thấy được hình ảnh Việt Nam, con người Việt Nam qua văn hóa Việt Nam.
Tuy nhiên, việc quảng bá văn hóa Việt Nam trong hoàn cảnh đã gia nhập WTO thì có khác hơn trong một sự kiện. Việc sử dụng các hình thức nghệ thuật cũng cần hiệu quả và phù hợp hoàn cảnh.
Một nhạc cụ dân tộc độc đáo như đàn bầu mà nhiều người nước ngoài gọi là "Cây đàn độc nhất vô nhị" nhưng khi đưa vào hòa tấu trong một dàn nhạc với hàng chục khí nhạc thì nó sẽ biến mất trong làn sóng âm thanh cực lớn! Tôi đã từng chứng kiến cây đàn bầu chinh phục người nghe châu Âu như thế nào. Họ vỗ tay không ngớt sau những lần biểu diễn của nhạc công và họ yêu cầu diễn lại nhiều lần. Một nhà ngoại giao Rumani khi nghe nghệ sĩ đàn bầu biểu diễn bài dân ca Rumani và bài dân ca Việt Nam, ông tỏ ra rất thích thú, thậm chí còn tò mò sờ thử cây đàn và hỏi tôi vì sao chỉ có một dây đàn đơn sơ mà nói lên được tâm hồn của cả hai dân tộc...
Nhiều người nước ngoài xem tuồng, chèo Việt Nam đã rất ngạc nhiên khi thấy chỉ có một chiếc chén bằng gỗ mà diễn tả được một cuộc uống rượu từ tỉnh đến say, cũng như chỉ một cái roi ngựa tượng trưng mà diễn tả được nhiều cách đi ngựa trên sân khấu.
Trong quảng bá văn hóa hiện nay có những điệu múa sáng tác công phu, có hàng chục vũ công biểu diễn hoành tráng, nhưng chưa chắc đã gây ấn tượng sâu bằng một điệu múa Chăm-pa hoặc múa của các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc hay Tây Nguyên. Bản sắc và cái độc đáo của nghệ thuật dân tộc Việt Nam là ở chỗ đơn sơ mà sâu sắc, thí dụ như "cấu trúc động mở" trong âm nhạc truyền thống, nếu ta biết được đặc trưng của nó, biết sử dụng nó và biết phát huy nó đúng lúc và đúng chỗ thì hiệu quả sẽ cao hơn.
Múa rối nước là nghệ thuật lạ lẫm đối với người nước ngoài, nhưng nếu đưa ra quảng trường thành phố giữa ban ngày mà biểu diễn thì hiệu quả sẽ bị giảm đi rất nhiều so với trình diễn ở ao làng dưới những vòm cây xanh biếc. Quảng bá nghệ thuật dân tộc mà không nắm vững đặc trưng của nó thì sẽ bị hạn chế sự thành công.
Quảng bá nghệ thuật dân tộc với người nước ngoài có phần khác với quảng bá cho người Việt Nam, bởi ngôn ngữ bất đồng, phải biến ngôn ngữ văn học thành ngôn ngữ động tác. Một vở tuồng "Lộ Ðịch" của Ưng Bình Thúc Giạ Thị khi diễn ở Việt Nam kéo dài tới hai giờ với vài chục nhân vật chính, phụ xuất hiện trên sân khấu, nhưng khi Tiến sĩ Thái Kim Lan chọn đưa sang biểu diễn ở CHLB Ðức thì được tiết giảm chỉ còn có 10 nghệ sĩ nhưng vẫn diễn tròn vở trong hơn một giờ đồng hồ phù hợp với cuộc sống công nghiệp ở châu Âu.
Sự tinh giảm ngôn ngữ văn học và điêu luyện nghệ thuật là yếu tố quyết định sự hấp dẫn đối với người xem nước ngoài. Ta thấy nghệ thuật sân khấu Noh của Nhật Bản thường biểu diễn trên sân khấu chỉ có vài nhân vật với một số nhạc cụ đệm cho diễn xuất, thế mà vẫn thu hút người xem trong vài giờ. Rõ ràng vấn đề ở đây là bản sắc nghệ thuật, là kỹ năng biểu diễn và sự cảm thụ nghệ thuật của người xem chứ không phải hiện đại hóa nghệ thuật cho mới lạ và hoành tráng. Kiểu đem dàn nhạc giao hưởng đệm cho cuộc trình diễn thời trang áo dài Việt Nam, hoặc áo dài Việt Nam biến thành áo liền váy của người châu Âu thì đó là quảng bá lệch pha dân tộc.
Về quảng bá văn hóa ẩm thực Việt Nam cũng phải là món ăn đặc sắc thực chất Việt Nam. Tôi chưa thấy một người nước ngoài nào đến dự đại tiệc theo kiểu Tây mà khen ngon, trong khi họ chỉ thưởng thức một bát phở gà, hoặc bò đặc biệt ở Hà Nội, hoặc ăn mấy chiếc nem Sài Gòn là họ thấy nhớ lâu. Ðó là đặc trưng, là bản sắc văn hóa mà khi quảng bá cho người nước ngoài ta không được lẫn lộn.
Rõ ràng việc quảng bá giới thiệu văn hóa Việt Nam còn nhiều việc phải làm, mà trong bài viết ngắn này chỉ mới nêu một số vấn đề mang tính gợi mở và tiếp tục cần nhiều nghiên cứu nghiêm túc trong thời gian tới.