Quan họ thời hiện đại

Quan họ là một giá trị văn hóa - nghệ thuật đặc sắc của người Kinh Bắc; đó là điều đã được khẳng định. Xưa kia, người Kinh Bắc đi hát quan họ như một thú chơi nghệ thuật, với thể thức hát đối đáp trai - gái thành từng cặp diễn xướng đồng giọng. Thế nên mới gọi là chơi quan họ, và điều đó lý giải tại sao quan họ mang bản chất của nghệ thuật biểu diễn, nhưng lại không mang tính sân khấu với cặp phạm trù nghệ sĩ - khán giả.

Ở đây, nghệ thuật âm nhạc chưa bao giờ được xem như một thứ hàng hóa để thỏa mãn thị trường cung - cầu của sân khấu. Trong truyền thống, người Kinh Bắc chơi quan họ để thỏa mãn nhu cầu giao lưu nghệ thuật cộng đồng giữa từng nhóm (bọn) quan họ kết nghĩa, họ không phải là diễn viên. Vì như đã biết, thời xưa, người quan họ không kết nghĩa thì không bao giờ hát đối với nhau, trừ trường hợp thi lấy giải trong những ngày hội hè.

Hằng năm, tới kỳ hẹn, các bọn quan họ lại dắt díu nhau vượt cả dặm đường sang chơi nhà quan họ bạn, ca hát thâu đêm suốt sáng. Hết canh hát, ai về nhà nấy, trở lại với cuộc sống thường nhật. Mối quan hệ đó truyền đời, con cháu họ sẽ phải tiếp nối truyền thống kết nghĩa của ông bà, cha mẹ để cuộc chơi nghệ thuật keo sơn - gia truyền có thể kéo dài theo năm tháng. Ðó là duyên phận nghệ thuật của người chơi quan họ - một hiện tượng sinh hoạt độc nhất vô nhị trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Và có lẽ, một trong các nguyên nhân dẫn đến sự chững lại của các cuộc hội ngộ nghệ thuật giữa các liền anh, liền chị bắt đầu từ khi đất nước trải qua những năm tháng chiến tranh giữ nước. Hội hè cùng một số sinh hoạt cộng đồng vốn in đậm dấu ấn của làng xã cổ truyền - cái nôi thật sự của loại hình, đã nhanh chóng thay đổi theo thời cuộc, theo vận mệnh của dân tộc.

Ðiều đó có nghĩa sự biến đổi của môi trường văn hóa xã hội, theo năm tháng, đã kéo theo cả sự biến động nhiều phong tục, mỹ cảm cổ truyền. "Sân chơi" không còn, đương nhiên nhận thức của lớp người kế cận cũng "di dời" theo. Lớp quan họ kết nghĩa cuối cùng ngưng cuộc chơi, lớp con cháu kế cận thì không thể kế tục, tiếp bước. Và, giai đoạn cuối thập kỷ 50 của thế kỷ 20 được xem là buổi chiều tà của những tốp liền anh, liền chị dắt díu nhau đi hát quan họ trong ngày hội làng, hội xuân.

Nói vậy, có nghĩa lối hát quan họ cổ truyền thực thụ trên đất Kinh Bắc, hiện nay hầu như không còn, cũng đồng nghĩa với sự khẳng định - những sinh hoạt quan họ hiện tồn tại ở Bắc Ninh đã có biến động khác hẳn, cả về nội dung lẫn hình thức.

Bên cạnh những biến đổi chung của hoàn cảnh lịch sử dân tộc, sự ra đời của Ðoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh cũng là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của âm nhạc quan họ nói riêng, của thú chơi quan họ nói chung. Từ đây, nghệ thuật quan họ chính thức bước lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp với rất nhiều sự khác biệt, đổi thay về nhiều mặt.

Trước nhất, người hát quan họ ngày nay đương nhiên là diễn viên, được thể chế hóa - công nhận vai trò chuyên nghiệp để phục vụ khán giả.

Chuyên nghiệp hóa - đó là tiền đề để quan họ chuyển mình từ một thú chơi nghệ thuật thuần túy, tao nhã thành một sản phẩm nghệ thuật  nhằm phục vụ, đáp ứng thị trường cung - cầu, ngày càng có tính ổn định. Giờ đây, hầu khắp mọi sinh hoạt ca hát quan họ chỉ chủ yếu để biểu diễn thuần túy, rất hiếm thấy trường hợp hát chơi.

Ngay cả những canh hát được tạo dựng để đãi khách khi nhà có tiệc khao, cũng phải trả thù lao cho người hát. Và như thế, ngày nay, nếu chúng ta muốn nghe một canh hát quan họ thì có thể tổ chức dễ dàng với một khoản thù lao xác định. Âu đấy cũng là điều đáng mừng để vốn liếng ngàn xưa của ông cha có thể được duy trì phần nào.

Phàm đã lên sân khấu thì phải diễn - tức tạo dựng - đóng giả mọi cảm xúc để phục vụ trình thức sân khấu. Thế nên ngay từ đầu, các diễn viên đoàn quan họ bắt đầu phải tập phong cách đi đứng, liếc mắt tình tứ trao duyên, mặc dù đó là điều không bao giờ có trong cổ truyền. Bởi thời xưa, người quan họ hát đối đáp với nhau vốn không bao giờ được phép quan hệ luyến ái, thì sao có thể "đầu mày cuối mắt, đưa đẩy khối tình" - đấy là luật tục bất thành văn.

Theo đó, các nghệ danh anh Hai, chị Ba, anh Năm, chị Sáu... bây giờ cũng đương nhiên khác hẳn với truyền thống. Như đã biết, xưa, các bọn quan họ kết nghĩa tự sắp đặt, lập thành các cặp hát đồng giọng theo các thứ bậc Cả, Hai, Ba, Tư... để cứ thế mà đối đáp cùng nhau. Ðó là nghệ danh dân gian, hàm chứa những ý nghĩa phân định chức năng giao đãi nghệ thuật khác nhau trong từng bọn quan họ. Còn ngày nay trên sân khấu, những nghệ danh đó vẫn được xưng tụng nhằm duy trì những đại từ danh xưng nghệ thuật một thời của Kinh Bắc. Ðiều đó đáng trân trọng nhưng xin hãy hiểu bản chất của vấn đề. Tiếc là trong làng quê quan họ ngày nay, các nghệ danh nêu trên thường không được hiểu thấu đáo và được dùng khá bừa bãi. Thường thì cứ ai hát quan họ cũng được gọi là anh Hai, chị Hai, như câu cửa miệng. Chúng tôi đã chứng kiến trong một canh hát, nhiều cặp hát cùng tự xưng là anh Hai - anh Ba (!).

Mấy năm qua, điền dã trên đất quan họ, hình như không mấy ai "chịu xưng" là Tư, Năm hay Sáu cả, họ không hiểu bản chất của vấn đề? Thôi đành tự an ủi, bọn quan họ xưa đâu còn, những canh hát thời nay chỉ là sự diễn lại mà thôi! Hơn thế nữa, phong cách "đầu mày cuối mắt" của các diễn viên đoàn quan họ trên sân khấu đã trở thành chuẩn mực cho phong trào ca hát tại chốn thôn quê, kéo theo nhiều đổi thay khác nữa. Ở nhiều nơi, khái niệm lịch sự quan họ nổi tiếng một thời đã trở thành xa lạ!

Có thể nói, "sân khấu hóa" quan họ đã dẫn tới sự biến đổi các thành tố của âm nhạc quan họ. Ngay từ thuở mới khai sinh ý đồ "sân khấu hóa", người ta đã nhanh chóng ý thức rằng hệ thống các bài giọng Vặt và Giã bạn của quan họ bao chứa rất nhiều tác phẩm có sức hấp dẫn lớn với giới thức giả bình dân. Giai điệu mượt mà, trữ tình, thiết tha, uyển chuyển, gợi cảm là điều dễ cảm nhận ở những làn điệu này.

Chính vì vậy, những nhà tổ chức đã nhanh chóng "nhạc đệm hóa" nghệ thuật quan họ. Và như thế, dưới góc độ âm nhạc học, từ một thể loại thanh nhạc - không phần đệm, quan họ đã trở thành hình thức có nhạc đệm. Ban đầu, người ta dùng hệ thống các nhạc cụ dân tộc đệm cho quan họ với kiểu dạng bè tòng theo giai điệu, với âm hình tiết tấu bộ trống da mang tính nhạc nhẹ.

Về sau, chuyển mình theo xu thế "tây phương hóa" dàn nhạc dân tộc, với hệ thống các nhạc cụ dân tộc cải biến theo nguyên lý âm nhạc phương Tây, nhạc đệm quan họ nhanh chóng được "nhạc nhẹ hóa", với âm hưởng "chát-xình-chát-chát-bùm" đặc trưng không thể thiếu. Rồi đến khi đàn organ điện tử xuất hiện phổ cập trong đời sống âm nhạc Việt Nam, dàn nhạc dân tộc cải biến đệm cho quan họ đã mau chóng bị thay thế. Nhìn ở góc độ này, mới thấy phong trào "xã hội hóa oóc-gan" do hãng Yamaha khởi xướng đã ảnh hưởng ghê gớm như thế nào đến nghệ thuật quan họ Bắc Ninh!

Trong suốt quá trình điền dã nhiều năm qua, cây đàn oóc-gan điện tử đã trở thành nỗi ám ảnh thật sự với một người làm âm nhạc dân tộc học như tôi. Thời nay, hầu như đội quan họ làng nào cũng có nhu cầu một nhạc công oóc-gan với một dàn máy phóng thanh kèm theo một hệ thống micro có dây và không dây khá hiện đại.

Theo đó, hình thức diễn xướng cặp hát đồng giọng dần dà được thay thế bằng hình thức đơn ca, thậm chí tốp ca có phân bè hòa âm. Âu cũng là phù hợp với nguyên tắc của dàn nhạc đệm kiểu tây. Cũng theo đó, kỹ thuật nảy hạt cổ truyền ngày càng mai một, tới mức đã được xem là "của hiếm" trong làng quan họ.

Ngày nay, hát quan họ kiểu không nhạc đệm kiểu cổ truyền đã trở thành một sinh hoạt hiếm thấy trên miền quê Kinh Bắc. Nhạc đệm xập xình là "món ăn" tinh thần không thể thiếu, từ Ðoàn Dân ca quan họ xuống tới các nhóm quan họ làng xã, người lớn hay trẻ nhỏ cũng vậy. Tới mức, khá nhiều người (kể cả diễn viên chuyên nghiệp), nếu không có nhạc đệm là không thể hát nổi. Có những lần, để phục vụ nhóm nghiên cứu quay phim tư liệu, các liền anh liền chị đã... "buộc" phải hát không nhạc đệm. Nhưng khi nhóm làm phim vừa mới kết thúc phần việc, nhạc công đàn organ của ê-kíp liền chị, liền anh đó lập tức bắt tay "hành nghề" ngay vì các diễn viên sốt ruột lắm rồi! Thế mới biết những tiếng đệm xập xình tân kỳ hấp dẫn các diễn viên quan họ đời mới như thế nào.

Giờ đây, lối hát thuở xưa không còn được trọng thị trong lớp trẻ, và thậm chí cả ở một phần không nhỏ lớp trung niên. Nó dường như chỉ còn là thẩm mỹ của những lớp nghệ nhân ở độ tuổi 70 - 80. Họ tuy không phải là những liền anh liền chị "xịn" - đã từng hát quan họ theo đúng nghĩa nhưng vẫn kịp kế tục, bảo lưu nhu cầu mỹ cảm nghệ thuật của thế hệ lớp trước.

Thẩm mỹ nghệ thuật thay đổi, tất nhiên đã kéo theo khá nhiều vấn đề đổi thay. Hệ thống bài bản thuộc giọng lề lối cũng không tránh khỏi số phận. Trong nghệ thuật quan họ, đây là những bài bản thuộc một kiểu dạng riêng (gần với ca trù), đường tuyến giai điệu kéo dài, kết cấu khá phức tạp với sự phát huy tối đa kỹ thuật nảy hạt cổ truyền. Nó thường dùng để mở đầu mỗi canh hát, là "sân chơi" của những liền anh liền chị có tài nghệ cao trong từng bọn quan họ kết nghĩa.

Những bài bản giọng lề lối được coi là sự thể hiện đẳng cấp cao của người hát quan họ. Khi sân khấu hóa, vì kỹ thuật khó cộng với hệ thống âm điệu khá riêng biệt nên các bài bản giọng lề lối không thể đệm nhạc xập xình. Rồi giai điệu của nó thì nhanh chóng bị coi là rề rà, chậm chạp, không phù hợp với "hơi thở thời đại"..., nên không được dùng trên sân khấu chuyên nghiệp.

Quan họ thời nay là vậy, lối hát như một thú chơi xưa kia hầu như đã không còn, và âm nhạc cũng biến đổi theo thời gian... Liệu dần dà theo năm tháng, quan họ đích thực có rơi vào tình trạng ra đi mãi mãi, để rồi đây, con cháu người Kinh Bắc còn nhớ về một sinh hoạt văn hóa thuở nào? Ðó cũng là điều cần suy ngẫm, để cái cổ truyền không mai một mà vẫn hấp dẫn con người đương đại. Phải làm thế nào đây, để lại có những đêm quan họ nhẹ nhàng, duyên dáng, thanh tao...?

Có thể bạn quan tâm