Ngày nay ASEAN chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam: chiếm 19,9% kim ngạch ngoại thương Việt Nam (2003) và 24,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Về thương mại, Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường ASEAN nhiều loại mặt hàng, trong đó có những mặt hàng có kim ngạch lớn như: dầu thô (năm 2003 là 1,186 tỷ USD), gạo (388 triệu USD), máy tính và linh kiện (172 triệu USD), dệt may (82 triệu USD), thủy hải sản (81 triệu USD), lạc (46 triệu USD), sản phẩm nhựa (45 triệu USD), cao-su (38 triệu USD), cà-phê (31 triệu USD), than đá (29 triệu USD). Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu nhiều loại mặt hàng từ các nước ASEAN đặc biệt là nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, nhất là sản xuất công nghiệp. Về đầu tư, các nhà đầu tư của các nước ASEAN đầu tư vào nhiều lĩnh vực: sản xuất, khách sạn, xây dựng khu công nghiệp, trong đó có những khách sạn nổi tiếng như Melia, Horison ở Hà Nội, Equatorial ở thành phố Hồ Chí Minh, các khu công nghiệp Amata ở Đồng Nai, Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore ở Bình Dương, Khu đô thị Nam Thăng Long (Siputra) ở Hà Nội.
Về quan hệ với từng thị trường, Singapore là thị trường có quan hệ thương mại và đầu tư hàng đầu trong quan hệ của nước ta với các nước ASEAN, riêng đầu tư còn là đối tác đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam với 318 dự án, tổng vốn đầu tư 7,914 tỷ USD, vốn thực hiện 3,246 tỷ USD (tính đến 25-8-2004). Tiếp theo là Thái-lan (với kim ngạch thương mại năm 2003 là 1,616 tỷ USD và tổng vốn đầu tư đến 25-8-2004 là 1,381 tỷ USD). Tương tự với Malaysia 1,386 tỷ USD và 1,250 tỷ USD, Indonesia 1,018 tỷ USD và 123 triệu USD, Philippines 489 triệu USD và 228 triệu USD, Lào 111 triệu USD và 16 triệu USD...
Về quan hệ hợp tác đa phương trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) từ năm 1996. Theo quy định của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA), là một trong bốn nước ASEAN mới (gồm Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào và Myanmar), Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu của sáu nước ASEAN cũ (ASEAN-6, bao gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái-lan) sớm hơn so với lịch trình Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu cho hàng hóa của các nước ASEAN-6.
Việc tham gia AFTA tạo điều kiện thuận lợi hơn cho xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường ASEAN. Một khu vực thị trường với hơn 500 triệu dân là rất rộng lớn, hơn nữa khu vực thị trường này đòi hỏi chất lượng hàng hóa không quá cao, là những điều kiện hết sức thuận lợi cho hàng xuất khẩu Việt Nam.
Ngoài ra, cũng trong khuôn khổ ASEAN các nước thành viên đã đạt được sự hợp tác khác thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại như: hợp tác cắt giảm hàng rào phi quan thuế; sửa đổi quy tắc xuất xứ hàng hóa theo hướng cộng gộp hàm lượng nội khối ASEAN; xác định lĩnh vực ưu tiên hội nhập tăng cường liên kết giữa các nước ASEAN trong một số ngành công nghiệp để tận dụng lợi thế của từng nước tăng trao đổi một khối và tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới: đồ gỗ, ô-tô, y tế, cao-su, nông sản, hải sản, dệt- may, hàng không, du lịch, điện tử; hợp tác trong lĩnh vực tự do hóa đầu tư và dịch vụ; hợp tác tạo điều kiện thuận lợi cho hàng quá cảnh, v.v... Gần đây nước ta đã tham gia hợp tác song phương với một nước hay một nhóm nước thuộc ASEAN: hợp tác ECS (bao gồm Cam-pu-chia, Lào, Myanmar, Thái-lan, Việt Nam); hợp tác kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Singapore; hợp tác chiến lược đối tác kinh tế của Việt Nam - Thái-lan.
Một bước tiến quan trọng trong quan hệ ASEAN là xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN. Ý tưởng đã được đưa ra tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 4-11-2002, đã được các nhà lãnh đạo các nước ASEAN nhất trí và coi ý tưởng này là mục tiêu cuối cùng của lộ trình hội nhập ASEAN. Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 họp tại Bali (Indonesia), các nhà lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Bali II, khẳng định sự nhất trí xây dựng cộng đồng ASEAN, nhấn mạnh tới việc liên kết kinh tế ASEAN thông qua cộng đồng kinh tế.
Về triển vọng quan hệ kinh tế, thương mại với từng thị trường: Với lợi thế vừa là thị trường tiêu thụ hàng hóa, vừa là thị trường trung chuyển hàng hóa, cho nên Singapore có khả năng nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam và cung cấp trở lại cho Việt Nam hầu hết các mặt hàng ta có nhu cầu nhập. Nếu ta khai thác tốt thế mạnh của thị trường (kể cả trung chuyển), ta có thể tạo ra nhiều cơ hội mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Dự kiến kim ngạch thương mại hai chiều năm 2004 đạt 4,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 1,2 tỷ USD, nhập khẩu 3,5 tỷ USD; năm 2005 các con số tương ứng sẽ là 5,2 tỷ USD, 1,4 tỷ USD và 3,8 tỷ USD. Cùng với tiến trình kết nối hai nền kinh tế mà hai chính phủ hai nước đang tiến tới thỏa thuận trong các lĩnh vực cụ thể, quan hệ hợp tác đầu tư, hợp tác dịch vụ vận tải, hợp tác về tài chính... giữa hai nước sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Với các thị trường Thái-lan, Malaysia, Indonesia và Philippines, nước ta có thể xuất khẩu các mặt hàng thuộc nhóm nguyên nhiên liệu, linh kiện điện tử. Riêng mặt hàng gạo, ta xuất khẩu sang Philippines và Malaysia, năm nay Indonesia duy trì lệnh cấm nhập khẩu gạo để giữ việc tiêu thụ gạo trong nước, nhưng tiềm năng việc tiếp tục xuất khẩu gạo vào thị trường này vẫn còn lớn. Dự kiến kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam với nhóm nước này năm 2004 đạt: với Thái-lan 1,8 tỷ USD, Việt Nam xuất khẩu 370 triệu USD, Việt Nam nhập khẩu 1,430 tỷ USD; Tương tự với Malaysia 1,6 tỷ USD, 470 triệu USD và 1,130 tỷ USD; với Indonesia 1,1 tỷ USD, 500 triệu USD và 590 triệu USD; với Philippines 610 triệu USD, 450 triệu USD và 160 triệu USD. Năm 2005, dự kiến kim ngạch thương mại hai chiều với nhóm thị trường này sẽ là: với Thái-lan 2 tỷ USD, với Malaysia 1,750 tỷ USD, với Indonesia 1,2 tỷ USD, với Philippines 700 triệu USD.
Về thu hút đầu tư, ta có thể thu hút mạnh hơn đầu tư từ Malaysia và Thái-lan, trước hết là trong các lĩnh vực chế biến nông sản, thực phẩm và sản xuất thức ăn gia súc.
Với thị trường Lào, Cam-pu-chia và Myanmar là những nước thuộc nhóm ASEAN - 4, là những thị trường có tiềm năng nhập khẩu nhiều loại mặt hàng công nghệ phẩm, trước hết là hàng tiêu dùng. Kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam với nhóm thị trường này hiện còn ở mức chưa cao (năm 2003 với Lào 111 triệu USD, với Cam-pu-chia 362 triệu USD, với Myanmar 31 triệu USD). Nhóm nước này vừa là thành viên ASEAN vừa là thành viên của nhóm ECS với Việt Nam đặc biệt là hợp tác ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đang triển khai nhiều hạng mục hợp tác thiết thực và trong tương lai có tiềm năng hợp tác khá hơn về nhiều mặt.
Là thành viên của ASEAN, quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với các nước khác trong ASEAN có điều kiện thuận lợi lớn về chính sách, cơ chế, nhiều ưu đãi do CEPT/AFTA mang lại - một điều kiện mà hiện nay trong quan hệ với các thị trường khu vực khác mà nước ta chưa có được. Mặt khác, xét về trình độ phát triển và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, một số nước trong ASEAN vẫn có nhu cầu đáng kể nhập khẩu hàng Việt Nam.
Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rất rõ rằng, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN và nhập siêu từ khu vực này đang là hai vấn đề rất đáng quan tâm trong quan hệ thương mại của nước ta với các nước ASEAN (năm 2003 Việt Nam nhập siêu 3 tỷ USD, sáu tháng đầu năm 2004 là 1,833 tỷ USD). Cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta có nhiều điểm tương đồng với cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của đại bộ phận các nước ASEAN làm cho hàng xuất khẩu của ta khó vào các thị trường này. Mặt khác, trong nhóm mặt hàng nông sản chưa chế biến hiện chiếm tỷ trọng khá lớn trong xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN, có rất nhiều mặt hàng nằm trong danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm và nhạy cảm cao (SL); số mặt hàng nông sản được các nước bổ sung vào CEPT để áp dụng việc cắt giảm thuế ngay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Do đó có thể thấy rằng hiện nay chúng ta chưa tận dụng được nhiều những ưu đãi do CEPT mang lại.
Để giảm bớt mức độ nhập siêu từ các nước ASEAN, cũng như từ các khu vực thị trường khác, cách tích cực nhất không gì khác hơn là cần tạo ra một cơ cấu hàng xuất khẩu phù hợp hơn nhằm tăng nhanh, tăng mạnh xuất khẩu sang khu vực này. Cần coi trọng vấn đề liên kết, hợp tác, phân công sản xuất với các nước ASEAN những ngành, những mặt hàng mà ta có lợi thế.
Đối với thị trường trong nước, chúng ta chỉ có thể làm chủ khi hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh cao. Nếu không, tình trạng nhập siêu từ các nước ASEAN khó có thể thu hẹp.
VŨ VĂN TRUNG
Vụ trưởng Vụ châu Á - Thái Bình Dương
Bộ Thương mại