Từ năm 1940 đã có tác giả mô tả tổn thương xơ cơ Delta (XCÐT), nhưng đến năm 1969 mới được nhắc đến trong y văn lần đầu. Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng chục nghìn trường hợp được phát hiện XCÐT, đây là vấn đề đang được quan tâm và cần được theo dõi điều trị tích cực.
Xơ hóa cơ Delta đặc trưng bởi tình trạng xuất hiện dải xơ trong cơ, dẫn đến sự rút cơ thứ phát và ảnh hưởng chức năng của khớp vai, xương bả vai. Khớp vai là khớp có biên độ vận động lớn nhất cơ thể. Vận động của khớp vai có sự tham gia của các cơ: nhi đầu, trên gai, dưới gai, tròn bé, ngực lớn, lưng rộng và cơ Delta...
Cơ Delta bao gồm ba bó: Bó trước tham gia vào các động tác xoay trong và duỗi, bó giữa (dạng vai), bó sau (xoay ngoài và duỗi). Vị trí tổn thương thường gặp nhất là bó giữa có cấu trúc xơ nhiều nhất do vị trí thường tiêm. Ngoài ra còn có thể gặp ở bó trước hay bó sau hoặc kết hợp cùng tổn thương hai hay ba bó.
Nguyên nhân của bệnh đến nay vẫn chưa biết rõ. Các yếu tố nguy cơ thường gặp của XCÐT là tiêm kháng sinh nhiều lần, dị dạng bẩm sinh, chấn thương, bệnh xơ cứng bì toàn thể, phẫu thuật tại vùng khớp vai. Không thấy mối liên quan chặt chẽ với yếu tố gia đình, nhưng một số nghiên cứu cho thấy mang tính địa phương.
Một số tác giả nghiên cứu trên những người bệnh có tổn thương XCÐT cho rằng, tổn thương do tiêm dẫn đến tình trạng những ổ viêm cơ và đây là yếu tố kích thích quá trình xơ hóa làm cho rối loạn sự hình thành collagen do ba cơ chế sau: Tổn thương cơ trực tiếp do tiêm hay do thuốc (gây ngộ độc cơ). Tổn thương thiếu máu cơ do phù nề tại chỗ và tổn thương mạch do chèn ép của những bó sợi, hoặc do tụ máu sau tiêm. Tổn thương dạn chèn ép khoang (khoang do các bó sợi hình thành) dẫn đến thiếu máu cơ hoặc chèn ép thần kinh gây tổn thương sợi thần kinh hay bản vận động. Biểu hiện của xơ cơ Delta là hạn chế vận động khép tay vào thân do Delta bị co ngắn, và tùy theo vị trí tổn thương bó giữa, bó trước hay bó sau mà hạn chế vận động dạng, gấp hoặc duỗi vai. Xương bả vai nhô cao và xoay ngoài khi khép vai. Có thể sờ thấy dải xơ dưới da vùng cơ Delta hoặc nhìn thấy rãnh lõm trên da vùng cơ Delta hoặc vết sẹo xấu. Người bệnh có thể đau quanh vai và cổ. Bán trật đầu trên xương cánh tay khi gấp hoặc duỗi cánh tay. Chụp phim X quang khớp vai phát hiện được những tổn thương như vôi hóa phần mềm, quá phát mỏm cùng vai hoặc lồi củ Delta. Có thể thấy hình ảnh trật khớp vai, ổ chảo bị dẹt, vẹo cột sống thứ phát... Siêu âm được đánh giá có giá trị chẩn đoán XCÐT so sánh tương đương với chụp cộng hưởng từ. Siêu âm phần mềm với đầu dò tần số cao 7,5 MHz cho phép đánh giá kích thước, mức độ xơ hóa cơ, các tổn thương kết hợp và chẩn đoán phân biệt các bệnh lý viêm gân quanh khớp vai. Các đánh giá tổn thương XCÐT nghiên cứu trên siêu âm đều cho thấy bó giữa cơ Delta là hay tổn thương nhất. Có thể đo được thay đổi bằng siêu âm. Chụp cộng hưởng từ có giá trị đánh giá chính xác vị trí và giai đoạn của tổn thương, đặc biệt giúp cho lựa chọn phương pháp phẫu thuật. Tuy vậy, do giá thành cao, chỉ áp dụng được ở các tuyến có sẵn phương tiện và đánh giá những trường hợp tổn thương phức tạp, cần phải chẩn đoán phân biệt. Chụp khớp vai cản quang có tác dụng chẩn đoán loại trừ các tổn thương gân quanh khớp vai trong trường hợp đứt gân hoặc hẹp dính bao khớp. Ðiện cơ, sinh thiết cơ ít có giá trị và áp dụng thực tế. Chụp khớp vai và siêu âm nên được xem là những phương pháp chẩn đoán hình ảnh thường quy, giúp cho việc chẩn đoán sớm XCÐT, từ đó thầy thuốc có thái độ điều trị thích hợp, đặc biệt kỹ thuật này có thể áp dụng ở các tuyến cơ sở.
Một số tác giả đưa ra khuyến cáo chỉ nên áp dụng điều trị phẫu thuật ở trẻ từ năm tuổi trở lên và khi vận động góc co dạng 25-30 độ, trên X quang có hình ảnh bán trật đầu trên xương cánh tay, rộng khe khớp cùng đòn hoặc quá phát mỏng cùng vai, xoay xương bả ra ngoài và lên trên, những trường hợp có ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
Theo kinh nghiệm của Trung tâm khớp Bệnh viện E, hơn 50% số cháu bị XCÐT có thể phục hồi sức khỏe bằng các biện pháp phục hồi chức năng; chỉ định mổ sai có nguy cơ xơ nặng hơn. Mục đích phẫu thuật XCÐT là giải phóng co rút, lấy bỏ dải xơ.
Ðánh giá sau mổ, hết tình trạng bán trật khớp vai, cơ lực tốt, góc co dạng, góc co khép và góc khép theo mặt phẳng. Cần quan tâm đến sẹo sau phẫu thuật về phương diện thẩm mỹ và đặc biệt sẹo lại sẽ là nguyên nhân dẫn đến hạn chế vận động khớp vai sau này. Chức năng khớp vai thường sẽ trở lại bình thường sau ba tháng. Cần có chế độ theo dõi định kỳ hằng tuần, hằng tháng. Cần được tập luyện phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật, tập phục hồi các động tác khép và phục hồi hoàn toàn khả năng vận động bằng các biện pháp chủ động và thụ động. Ðặc biệt, đối với các trường hợp không có chỉ định phẫu thuật, cần có chế độ luyện tập phục hồi chức năng theo hướng dẫn của các bác sĩ tại nhà.