Phú Thọ phát triển các làng nghề

Tỉnh Phú Thọ hiện có 60 làng nghề, trong đó có 14 làng đã được công nhận là làng nghề đạt tiêu chuẩn theo quyết định của UBND tỉnh. Làng nghề đã tạo việc làm cho khoảng 30 nghìn lao động nông thôn, đem lại thu nhập khá cao cho người dân.

Ngành nghề sản xuất của các làng chủ yếu là đan lát, mộc dân dụng, chế biến chè, nông sản thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng.

Kết quả khảo sát, đánh giá của Sở Công nghiệp Phú Thọ mới đây cho thấy: 14 làng nghề sau khi được tỉnh công nhận, sản xuất kinh doanh có bước phát triển mới.

Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp các làng này đạt hơn 164 tỷ đồng (tăng 18% so với năm 2004), doanh thu đạt 152,4 tỷ đồng (tăng 27%). Phần lớn các làng nghề đều chú ý vừa mở rộng sản phẩm truyền thống, vừa đầu tư thêm một số công đoạn, áp dụng công nghệ tiến bộ hơn, tạo thêm những sản phẩm mới. Làng mây tre đan Ðỗ Xuyên, từ cót mộc ép đã sản xuất thành cót ép, từ sản phẩm nứa dồn làm vóc đã tạo nên sản phẩm sơn mài hoàn chỉnh.

Làng Dư Ba (xã Tuy Lộc, Cẩm Khê) sản xuất hàng mộc cao cấp, có hoa văn khảm trai ốc. Làng Sai Nga ngoài làm nón thông thường còn sản xuất thêm nón lá chất lượng cao theo đơn đặt hàng. Làng Ba Ðông đầu tư thêm tám máy chẻ nan, giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất chẻ nan, tăng thu nhập cho người làm nghề; làng chế biến thực phẩm Ðoàn Kết (xã Hùng Lô, TP Việt Trì) đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng và tạo thương hiệu cho sản phẩm bún, mỳ gạo. Hiện nay 14 làng nghề được tỉnh công nhận thu hút 5.128 hộ với 10.340 lao động tham gia. So với các làng, xã lân cận thì đời sống của người dân các làng nghề khá hơn hẳn.

Tổ chức hoạt động của các làng nghề khá chặt chẽ. Trong làng nghề đều có trưởng làng nghề do các hộ bầu ra. Trưởng làng nghề thường gắn với trưởng khu hành chính, tổ chức hội hoặc câu lạc bộ nghề. Trong làng có nhiều nghề thì thành lập các tổ riêng theo từng nghề, để sinh hoạt giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tạo điều kiện giúp đỡ nhau về nhiều mặt. Nhiều làng như Ðoàn kết, Ba Ðông, Dư Ba, Vân Hùng còn tổ chức đi tham quan, trao đổi kinh nghiệm sản xuất; học hỏi và tìm hiểu áp dụng công nghệ mới vào sản xuất; đưa sản phẩm tham gia vào các cuộc triển lãm, hội chợ do Sở Công nghiệp và UBND các huyện tổ chức.

Các làng nghề đều có nghị quyết và giải pháp xây dựng, phát triển nghề; xây dựng hạ tầng tạo điều kiện cho ngành nghề phát triển. Một số nơi như xã Hoàng Xá, dành quỹ đất cho quy hoạch CN-TTCN; các xã Ðỗ Xuyên, Tuy Lộc, Vân Hùng, Sai Nga dành quỹ đất cho doanh nghiệp đến đầu tư xây dựng xưởng sản xuất, mở rộng và bê-tông hóa đường vào làng nghề. Hoạt động văn nghệ trong làng nghề thường được gắn với văn hóa du lịch, động viên nhân dân thực hiện các quy định của làng nghề gắn với xây dựng làng văn hóa.

Hoạt động của các làng nghề trong thời gian qua đã có bước chuyển tích cực, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục. Ða phần các làng nghề quy mô còn nhỏ, sản phẩm giản đơn. Việc áp dụng kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất tuy có, song diễn ra chậm; năng suất lao động thấp; sản phẩm chưa có độ tinh xảo, kết tinh giá trị văn hóa cao. Ðội ngũ ông chủ, doanh nhân trong làng nghề ít, năng lực hạn chế, chưa đủ sức thúc đẩy làng nghề phát triển.

Vai trò của làng nghề tác động vào sản xuất kinh doanh còn hạn chế, mối gắn kết lỏng lẻo, thậm chí có nơi còn phó mặc cho các hộ tự hoạt động. Chưa tổ chức được nhiều hoạt dộng hỗ trợ phát triển nghề như: tổ chức thi tay nghề, tôn vinh người có tay nghề giỏi; tổ chức tham quan học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất; tổ chức tìm kiếm thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu cho làng nghề; nhiều khó khăn của làng nghề chưa được chính quyền một số nơi tháo gỡ.

Công tác thống kê theo dõi hoạt động kinh doanh của làng chưa thường xuyên và đầy đủ. Nhiều nơi, các cấp ủy đảng, chính quyền chưa quan tâm đúng mức việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển làng nghề, hoặc có chỉ đạo nhưng mang tính định hướng chung chung, thiếu giải pháp đồng bộ và cụ thể. Nhiều xã chưa đề đạt quy hoạch dành đất cho phát triển TTCN; chưa tìm hiểu, định hướng sẽ nhân cấy nghề phù hợp vào địa phương mình; thiếu biện pháp tổ chức nguồn nhân lực như truyền nghề tại chỗ, gửi người đi học các lớp khởi nghiệp, bồi dưỡng quản trị kinh doanh. Tình trạng ô nhiễm ở một số làng nghề chậm được khắc phục.

Để hoạt động của các làng nghề đem lại hiệu quả cao, tỉnh Phú Thọ đẩy mạnh công tác khuyến công, phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, quan tâm nhân cấy và truyền nghề mới. Trong đó ưu tiên có trọng điểm cho những ngành nghề có tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn; phát triển hệ thống dịch vụ công nghiệp ở nông thôn, tăng cường đội ngũ làm công tác khuyến công.

Tiếp tục thực hiện một số chính sách của tỉnh trong lĩnh vực này, như: hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động lập dự án, dạy nghề, truyền nghề, học nghề, nghiên cứu cải tiến mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, chuyển giao công nghệ mới; hỗ trợ đầu tư một phần hoặc cấp bù đến 100% lãi suất tiền vay tín dụng để mua, lắp đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Các dự án đầu tư cụm công nghiệp - làng nghề trong quy hoạch được hỗ trợ xây dựng đường, điện, nước và hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng. Các làng nghề đạt tiêu chuẩn tỉnh quy định và khi du nhập được nghề mới vào địa phương sẽ được khen thưởng.

VIỆT ANH và ÐỨC MINH

Có thể bạn quan tâm