Nghĩa vụ hình sự hóa hành vi rửa tiền
Nhiều người không khỏi băn khoăn, có nhiều câu hỏi đặt ra về các giao dịch tiền mặt giá trị lớn sẽ được giám sát theo quy định trong Nghị định phòng chống rửa tiền, phải chăng có quá sớm quá không? Điều cần khẳng định trước tiên là việc ban hành Nghị định này thực sự là cần thiết phản ánh thực tế đòi hỏi của công tác phòng chống tội phạm ở nước ta và phản ánh xu thế hội nhập quốc tế trong phát triển kinh tế và hợp tác phòng chống tội phạm, phù hợp với các công ước quốc tế có liên quan mà nước ta đã ký kết hoặc công nhận tham gia.
Định nghĩa pháp lý đầu tiên về rửa tiền trong văn bản chính thức của Liên hợp quốc là Công ước chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988. Trong Công ước đã yêu cầu các nước thành viên nghiên cứu đưa vào Luật hình sự nước mình "Hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó đã thu được từ buôn bán ma túy hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội với mục đích che giấu nguồn tài sản hoặc giúp người khác thực hiện các hành vi trên, trốn tránh trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình". Tháng 10-1990, Công ước của Hội đồng châu Âu về hành vi hợp pháp hóa tài sản do phạm tội mà có phát hiện bắt giữ và tịch thu các tài sản do phạm tội mà có, đây là điều ước quốc tế khu vực đầu tiên quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, Công ước này chỉ có hiệu lực ở khu vực. Phải đến tháng 12-2000 khi mà Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc được ký kết vấn đề tội phạm có tổ chức và tội phạm rửa tiền được xác định đầy đủ, cụ thể hơn.
Công ước cũng xác định rõ: Trong phạm vi thẩm quyền của mình, các quốc gia thành viên thiết lập những quy định tổng thể về những chế độ giám sát đối với ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và những cơ quan khác dễ liên quan đến rửa tiền để giám sát, ngăn ngừa và đấu tranh các hoạt động rửa tiền, có cơ chế hợp lý để bảo đảm cho các cơ quan thi hành pháp luật, cơ quan khác có liên quan trong đấu tranh chống rửa tiền có đủ khả năng hợp tác và trao đổi thông tin ở cấp quốc gia và quốc tế. Các quốc gia thành viên cũng xem xét cân nhắc việc áp dụng các biện pháp khả thi để phát hiện điều tra, giám sát sự lưu thông, biến động của tiền mặt và thương phiếu qua biên giới nhưng không gây trở ngại cho sự luân chuyển các nguồn vốn hợp pháp; định hướng tổ chức đấu tranh và thiết lập các tổ chức đấu tranh phù hợp. Công ước cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải nỗ lực thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu, hợp tác khu vực, trên khu vực về hợp tác song phương, xây dựng hệ thống pháp luật, thực thi pháp luật trong công tác phòng chống rửa tiền.
Là một quốc gia thành viên tham gia ký, công nhận các công ước quốc tế trong kiểm soát ma túy và đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta đã bổ sung tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251 BLHS năm 1999). Trong điều luật đã xác định, hành vi hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có là hình thức hợp thức hóa tiền, tài sản bằng cách thông qua các hoạt động ngân hàng tài chính, đầu tư, hợp đồng kinh tế và các giao dịch khác để che giấu nguồn gốc phạm tội. Thực chất của tội phạm này là người có tiền thực hiện các hành vi rửa tiền nói trên hoặc người khác biết được nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó nhưng đã giúp sức tiếp tay, tạo điều kiện để hợp pháp hóa.
Loại bỏ "tiền bẩn", các giao dịch tiền mặt giá trị lớn sẽ được giám sát
Nghị định 74/2005/NĐ-CP đã quy định rõ: "Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có" và nêu rõ những trường hợp được coi là rửa tiền như tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do tội phạm mà có: thu nhận chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có: đầu tư vào một dự án, công trình, góp vốn doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy ngụy trang; cản trở nên xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí vận chuyển, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có cũng được coi là rửa tiền.
Nghị định này cũng đã tập trung chủ yếu vào việc quy định các trường hợp và biện xác minh các giao dịch đáng ngờ là hoạt động rửa tiền thông qua các định chế tài chính. Cụ thể, các giao dịch với giá trị lớn đều phải được ghi nhận và báo cáo các cơ quan chức năng, giao dịch phải báo cáo là một hoặc nhiều giao dịch trong một ngày do cá nhân hay tổ chức thực hiện bằng tiền mặt có tổng số giá trị là từ 200 triệu đồng trở lên hoặc bằng ngoại tệ cũng có giá trị tương đương đều phải ghi nhận và báo cáo các cơ quan chức năng. Đối với gửi tiết kiệm thì một giao dịch phải báo cáo là từ 500 triệu đồng trở lên.
Có 13 loại giao dịch được coi là giao dịch đáng ngờ với bốn nhóm sau đây: Các bên liên quan cung cấp thông tin nhận biết khách hàng không chính xác, không đầy đủ, không nhất quán, tổ chức cung ứng dịch vụ không báo cáo giao dịch đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật: các giao dịch thực hiện theo lệnh hay ủy quyền của cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động tội phạm nằm trong danh sách thống kê và cảnh báo do Bộ Công an lập ra, hoặc có thông tin khác có cơ sở nghi vấn có liên quan đến tội phạm cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch với số tiền có giá trị lớn không tương xứng hoặc không liên quan đến hoạt động thường ngày hay bất cứ hoạt động hợp pháp nào; các giao dịch, chi trả có sự bất thường, lòng vòng qua nhiều tài khoản, dưới nhiều pháp nhân khác nhau hoặc bất cứ giao dịch nào không có cơ sở pháp lý tin cậy.
Theo Nghị định này, để kịp thời ngăn chặn, phát hiện, có thể áp dụng một trong những biện pháp tạm thời như: không thực hiện giao dịch, phong tỏa tài sản, niêm phong hoặc tạm giữ tài sản, tạm giữ người vi phạm; các biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, việc áp dụng các biện pháp tạm thời phải thực hiện đúng thẩm quyền, theo đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng tới sự an toàn của hệ thống tài chính tiền tệ.
Trung tâm phòng, chống rửa tiền sẽ hoạt động như thế nào?
Theo Nghị định của Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước sẽ thành lập Trung tâm phòng, chống rửa tiền có chức năng làm đầu mối tiếp nhận và xử lý thông tin; có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chúc, cá nhân liên quan cung cấp tài liệu, hồ sơ các thông tin đã nêu trên về các giao dịch quy định trong Nghị định. Nhiệm vụ chính của Trung tâm là giúp Thống đốc ngân hàng tổng hợp, phân tích, xử lý, lưu giữ, cung cấp thông tin tài liệu hồ sơ chuyển giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến rửa tiền và các cơ quan có liên quan trong đấu tranh phòng, chống rửa tiền. Cần phải hiểu đây chỉ là trung tâm thông tin phục vụ phòng, chống rửa tiền chứ không phải là trung tâm phòng, chống rửa tiền.
Trong giai đoạn quá độ, để thực hiện Nghị định 74 từ ngày 1-8-2005, trong khi tổ chức chưa ổn định, chưa có hệ thống phần mềm cần thiết, các tổ chức tín dụng khi tiếp nhận các giao dịch cần có báo cáo theo danh sách riêng nhất là với những giao dịch đáng ngờ để tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng xem xét, thống kê, khoanh vùng, nếu thấy cần thiết có thể cho thẩm tra.
Hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền
Theo Nghị định 74, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là đầu mối đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước và thỏa thuận quốc tế, trong việc trao đổi thông tin về các giao dịch đáng ngờ có liên quan đến rửa tiền. Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế và tương trợ tư pháp, dẫn độ và hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền; tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm có liên quan đến rửa tiền. Các hình thức và nội dung yêu cầu hợp tác bao gồm: phát hiện, ngăn chặn rửa tiền, theo quy định của pháp luật Việt Nam và các nước có liên quan; ký kết các điều ước quốc tế đa phương và song phương về phòng, chống tội phạm có liên quan đến rửa tiền; thu thập, nghiên cứu trao đổi thông tin, phối hợp đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, tổ chức các hội nghị, hội thảo, thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp trong đấu tranh, xử lý tội phạm có liên quan đến rửa tiền.
Các yêu cầu hợp tác quốc tế về phòng chống rửa tiền phải được chuyển đến bằng văn bản, có chữ ký của người có trách nhiệm và có dấu của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia yêu cầu. Tùy theo nội dung và bản yêu cầu hợp tác mà gửi đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua trung tâm thông tin phòng, chống rửa tiền hoặc Bộ Công an (qua Văn phòng Interpol Việt Nam).