Các cổng làng cái nọ cách cái kia chỉ vài trăm mét, nhiều nhất là đoạn áp chợ Bưởi và đường Lạc Long Quân. Các cổng làng không giống nhau về nét kiến trúc cũng như kích thước. Mỗi chiếc mang một vóc dáng riêng, với những tên dễ nhớ: Cổng Giếng, cổng Chùa, cổng Hậu, cổng Ðông, cổng Xanh... Có cổng cũ kỹ, rêu phong cổ kính, bạc mầu theo thời gian. Có cổng bị mục nát, để bảo đảm an toàn nên đã được trùng tu, tôn tạo, thậm chí làm mới hoàn toàn. Tuy nhiên, ngắm nhìn chiếc cổng làng được quét loại sơn hiện đại, chống mốc, tấm lòng người 'hoài cổ' vẫn nôn nao, bồi hồi, luyến tiếc cái 'một đi không trở lại', 'ngàn năm hồ dễ mấy ai quên'.
Xuôi phố Thụy Khuê từ đông sang tây, các cổng làng đều ở mé bên phải. Các cổng làng có chỗ giống nhau, hai bên đều khắc tạo đôi câu đối bằng chữ nho. Cổng làng trước đây đều có cánh. Cổng mở vào buổi sớm, bắt đầu của một ngày lao động. Cổng được đóng, cài then khi trời về khuya. Phía trong cổng, tô điểm những mái đình, đền và những gốc cây bồ đề, muỗm, si, cây đa... sum suê mát rượi, giữ vẻ cổ kính, u tịch rất riêng của làng quê Việt Nam.
Theo cụ Tài (năm nay đã ngoài 80 tuổi, người gốc làng Thụy Khuê), thời gian đất nước chiến tranh, cụ phiêu dạt vào miền trung sống một thời gian dài, đến khi đã cao tuổi, cụ tìm về nơi 'chôn nhau cắt rốn'. Cụ kể, trước đây vùng đất này được biết đến với tên gọi Kẻ Bưởi, làng nghề nằm ven Hồ Tây, có nghề truyền thống làm giấy dó, đã đi vào ca dao cổ, với những ai có trải qua cuộc đời học sinh phổ thông đều thuộc lòng bài ca dao miêu tả cảnh đẹp Hà Nội buổi sớm mai 'Gió đưa cành trúc là đà/Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/Mịt mù khói tỏa ngàn sương/Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ'.
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, thăm làng nghề Yên Thái, du khách bắt gặp nhiều bể lớn xây cạnh lối đi để ngâm cây dó, tre, nứa... từ những bể nước đầy các loại cây ngâm tẩm toát ra mùi đặc biệt của làng có nghề làm giấy. Năm 1960, HTX Yên Thái vinh dự được Nhà nước đặt hàng làm một loại giấy đặc biệt, giấy trắng mịn mặt, nền hoa văn để in tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dấu xưa chỉ còn ẩn hiện chấm phá, giữ được cái hồn làng quê chính là những cổng làng. Cổng làng tạo cho phố Thụy Khuê một không gian làng xã ấm cúng, bà con sống với nhau nhiều đời, gắn bó họ hàng nên đối xử với nhau nặng 'tình làng nghĩa xóm', không phải phố nào của Hà Nội cũng có được. Cổng làng thường nằm ngoài mặt phố. Bên trong cổng, dẫn vào các xóm còn có nhiều cổng ngõ. Cổng ngõ nhỏ hơn so với cổng làng, nó tồn tại để xác định ranh giới xóm, thôn khác nhau. Khách đến đây hỏi số nhà nhưng phải thuộc xóm nào, thôn nào, nếu không muốn mất thời gian loanh quanh tìm kiếm.
Phía sau các cổng làng nằm dọc phố Thụy Khuê vẫn giữ những nếp sinh hoạt làng xã. Người dân rất tự hào về quê hương mình. Cụ Tài tâm sự: 'Dù đi đến đâu, ai hỏi quê quán, tôi đều trả lời người làng Bưởi. Người gốc Bưởi có giọng nói nhẹ, thanh, có đôi chút khác với giọng Hà Nội chuẩn. Thụy Khuê - làng Bưởi xưa có nghề dệt và nấu rượu nổi tiếng, đặc biệt là rượu hương sen thơm, nhẹ thường dùng khai vị trong các bữa tiệc ngày Tết'.
Thụy Khuê còn có một tên khác: phường Thụy Chương, gắn liền với tên tuổi hoàng tử Linh Lang. Ông sinh tại làng Thụy Chương (Thụy Khuê), bên hồ Dâm Ðàm (Hồ Tây) đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lược (1076-1077). Cuối đời nhà Trần, dân làng xây đền thờ ông, đó là đền Voi Phục nằm ở phía nam Công viên Thủ Lệ, nơi có 'vườn cổ tích' toàn cây muỗm, có tuổi từ 700 đến 1000 năm.