Phát triển đa dạng các mô hình kinh tế

Từ khai thác lợi thế bản địa, xây dựng thương hiệu sản phẩm đến phát triển chuỗi giá trị gắn với chế biến và du lịch, Ninh Bình đang từng bước chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp.

Du khách tham quan, trải nghiệm quy trình sản xuất tại Hợp tác xã Kỹ nghệ dệt lụa tơ tằm và thêu rua Hoa Lư.
Du khách tham quan, trải nghiệm quy trình sản xuất tại Hợp tác xã Kỹ nghệ dệt lụa tơ tằm và thêu rua Hoa Lư.

Phát huy lợi thế bản địa

Với lợi thế nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa đã có từ lâu đời, Hợp tác xã Kỹ nghệ dệt lụa tơ tằm và thêu rua Hoa Lư (phường Nam Hoa Lư) đang từng bước tổ chức lại sản xuất, đưa sản phẩm lụa Hoa Lư trở thành một trong những sản phẩm đặc trưng của địa phương. Nếu như trước đây hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào quy mô hộ gia đình, thiếu liên kết thì nay hợp tác xã đã xây dựng quy trình sản xuất khép kín từ vùng nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Hiện hợp tác xã duy trì hơn 5.000 m² vùng trồng dâu theo hướng hữu cơ phục vụ các công đoạn nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải; tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động với thu nhập bình quân từ 7-9 triệu đồng/người/tháng. Sản lượng tơ trung bình đạt khoảng 2 tấn/tháng, bảo đảm nguồn nguyên liệu chất lượng cao cho sản phẩm thị trường trong nước và xuất khẩu. Doanh thu của hợp tác xã đạt khoảng 8-10 tỷ đồng/năm.

Ông Nguyễn Toàn Thắng, Phó Giám đốc hợp tác xã cho biết: “Chúng tôi xác định tập trung phát triển dòng sản phẩm cao cấp, chú trọng chất lượng, kỹ thuật thủ công và giá trị riêng của sản phẩm; đồng thời kiểm soát chặt chẽ các công đoạn từ trồng dâu, ươm tơ, se sợi, dệt đến nhuộm màu bằng nguyên liệu tự nhiên”.

Song song với đó, hợp tác xã kết hợp phát triển hoạt động du lịch trải nghiệm, tạo thêm giá trị cho sản phẩm. Du khách đến đây được tìm hiểu, tham gia vào các công đoạn làm lụa thủ công. Nhờ đó, mỗi tháng hợp tác xã đón hơn 1.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm khoảng 80%, góp phần quảng bá thương hiệu sản phẩm và mở rộng cơ hội phát triển kinh tế địa phương.

Theo bà Phạm Thị Thu Hiền, Chủ tịch Hội Nông dân phường Nam Hoa Lư, mô hình của hợp tác xã đang mở ra hướng đi hiệu quả, tạo động lực cho người dân phát triển sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, tập trung và có giá trị kinh tế cao. Qua đó, duy trì nghề truyền thống, giảm tỷ lệ hộ nghèo và tạo sinh kế lâu dài cho người dân.

Tại xã Trần Thương, cơ sở sản xuất hạt sen Dũng Tâm cũng đã tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong tỉnh để xây dựng chuỗi sản xuất, chế biến các sản phẩm từ hạt sen với khoảng 50 tấn nguyên liệu mỗi năm. Trong đó, sản phẩm hạt sen khô của cơ sở đã được công nhận OCOP 3 sao, mỗi năm cung cấp khoảng 20 tấn đi các tỉnh phía bắc, mang lại doanh thu hơn 4 tỷ đồng.

Ông Ngô Quang Dũng, chủ cơ sở cho biết, việc khai thác hiệu quả lợi thế vùng nguyên liệu cùng kinh nghiệm sản xuất đã giúp cơ sở nâng cao giá trị nông sản, đa dạng sản phẩm và xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đổi mới phương thức sản xuất

Tỉnh Ninh Bình hiện có hơn 334.000 hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản; trong đó khoảng 304.000 hộ cư trú tại khu vực nông thôn. Những năm qua, tỉnh tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đổi mới phương thức sản xuất theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững.

Từ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đến tổ chức lại sản xuất theo chuỗi liên kết, nhiều mô hình kinh tế mới đã được hình thành như: Sản xuất lúa chất lượng cao gắn với tiêu thụ sản phẩm; phát triển vùng chuyên canh rau, củ, quả an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP; mở rộng diện tích cây ăn quả có giá trị kinh tế cao; chăn nuôi an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ cao và các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi.

Nhờ đó, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản hiện đạt khoảng 198 triệu đồng, tăng 28,5% so với năm 2021. Tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm trên 75% tổng diện tích gieo cấy; khoảng 7.250 ha đất lúa đã được chuyển đổi sang các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao hơn.

Tỉnh đã hình thành 123 chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản an toàn; nhiều sản phẩm từng bước xây dựng được thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước, xuất khẩu. Hiện tỉnh Ninh Bình có hơn 1.000 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên; 3 sản phẩm 5 sao, 4 sản phẩm tiềm năng 5 sao.

Trên nền tảng những kết quả đạt được, giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nền nông nghiệp sinh thái, đa giá trị; sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; phát triển kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng sinh thái, gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch và OCOP. Qua đó, phấn đấu giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt 220 triệu đồng trở lên; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm dưới 1%.

Ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, ngành sẽ tiếp tục tham mưu các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp bền vững; tập trung đầu tư hạ tầng, ứng dụng công nghệ, phát triển sản xuất hữu cơ; xây dựng các chuỗi liên kết và hỗ trợ phát triển sản xuất rau, củ, quả, hoa, cây dược liệu nhằm phục vụ du lịch.

Phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn mới không chỉ hướng tới nâng cao năng suất mà quan trọng hơn là tạo ra giá trị gia tăng, mở rộng thị trường, nâng cao thu nhập cho người dân và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là nền tảng quan trọng để Ninh Bình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông dân văn minh, nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và đô thị.

Có thể bạn quan tâm