Có thể ví căn nhà nhỏ của ông ở số 77 Thủ Khoa Huân, quận 1 – TP Hồ Chí Minh như một bảo tàng nhỏ với bốn bộ sưu tập : cổ vật, bản đồ cổ, sách và bộ sưu tầm địa bạ. Không sưu tầm như những người khác, ông sưu tầm là để phục vụ cho việc nghiên cứu. Ông sinh ra tại Hà Nội, vào Sài Gòn năm 1956, đã từng học cử nhân khoa học xã hội tại Pháp. Nay đã hơn 80 tuổi, nhưng lòng đam mê của ông với công việc sưu tầm và nghiên cứu thì dường như không có tuổi.
Sở hữu tập bản đồ khổng lồ
Ông Đầu có một niềm say mê đặc biệt với những bản đồ cổ. Ông nói, những tấm bản đồ không chỉ giúp ta biết về vị trí, hình dáng mà còn hiểu thêm về giá trị kinh tế và tính nhân văn của một vùng đất nào đó.
Ông đã cất giữ cẩn thận hàng ngàn tấm bản đồ cổ như báu vật. Nhiều tấm được ông đóng khung treo tường như những bức tranh đẹp. Có thể thấy, mỗi bản đồ được vẽ ở những thời kỳ khác nhau, theo những phong cách khác nhau.
Và trong những tấm bản đồ ấy, không phải lúc nào hình dáng, diện tích đất đai của các tỉnh và cả nước đều giống nhau. Qua thời gian, nhiều địa danh và phân ranh hành chính từ làng tới tỉnh đã không còn như trước nữa và ông là người hiểu rõ được những đổi thay đó dù là rất nhỏ.
Có cả tên làng của ba nước Đông Dương
Trong bộ sưu tập bản đồ cổ của ông, có thể kể đến những tấm bản đồ vẽ từ thời Hồng Đức thế kỷ XV, những bản đồ Việt Nam do người Trung Quốc vẽ. Sau đó là những bản đồ Việt Nam do người Anh, Pháp, Đức vẽ, những bản đồ của Nam Bộ và toàn quốc qua các thời kỳ.
Ngoài ra còn có bản đồ Đồng Khánh địa dư chí và 10 cuốn bản đồ Trung Quốc qua các thời đại. Riêng bản đồ TP Hồ Chí Minh, ông có đến 300 cái. Nhưng giá trị nhất phải kể đến tập bản đồ Đông Dương gồm hơn 300 cuốn do người Pháp vẽ vào năm 1909 với tỉ lệ 1/100.000.
Trong tập bản đồ này có ghi chi tiết từng tên xóm, tên làng của tất cả các tỉnh ba nước Đông Dương. Những tấm bản đồ này được in rất đẹp, có nếp gấp bằng vải và có thể gấp lại thành một cuốn sách, còn nếu trải ra thì có thể phủ kín cả một ngôi nhà năm tầng.
Bỏ cả đời nghiên cứu địa bạ
Những tấm bản đồ này giúp ông rất nhiều trong việc viết sách, viết báo về lịch sử các vùng đất. Khi dịch cuốn Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận của Trương Vĩnh Ký từ tiếng Pháp ra tiếng Việt, ông cũng bổ sung thêm phần bản đồ được vẽ ở thời điểm đó.
Quan trọng hơn, những bản đồ này (và những bộ sưu tập khác), có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu địa bạ, công việc mà ông theo đuổi gần cả một đời.
Khởi nguồn của công trình nghiên cứu này là từ năm 1975, khi ông được tiếp xúc với những cuốn sổ địa bạ lưu trữ của triều đình Huế bị lưu lạc nằm dưới hầm Dinh Thống Nhất. Không ngờ, 16.000 quyển địa bạ với bao phức tạp vì những nét viết chữ Hán khác nhau lại khơi dậy trong ông sự say mê đến lạ.
Ban đầu, ông chỉ định nghiên cứu địa bạ liên quan đến TP Hồ Chí Minh để góp phần biên soạn Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh do giáo sư Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng chủ biên. Nhưng càng làm càng say, ông nghiên cứu tiếp về sáu tỉnh Nam Kỳ rồi dần dà ra đến Bắc.
Đến nay, ông đã viết được 20 cuốn sách về địa bạ của gần hết các tỉnh trong toàn quốc. Những sách này do chính ông viết, in và giữ lại làm bộ sưu tầm cho riêng mình, nó ít bán trên thị trường. Đối với ông bộ sưu tầm này là vô giá, một phần cũng vì tính độc đáo của nó.
Hơn 400 cổ vật tiêu biểu của lịch sử
Trên căn gác nhỏ, bộ sưu tập cổ vật của ông được bày gọn gàng trong tủ kính trông thật đẹp mắt. Ông cho biết, bộ sưu tập này có khoảng hơn 400 cổ vật (chủ yếu là các đồ dùng bằng gốm, sứ, bạc, đồng và đồ thủ công mỹ nghệ cổ) tiêu biểu cho từng thời đại qua 20 thế kỷ của Việt Nam.
Qua đây, có thể biết người Việt mình trước đây đã ăn mặc, sinh hoạt như thế nào. Sự đa dạng về kiểu dáng của 10 chiếc bình vôi cho thấy sự tinh tế trong thói quen ăn trầu xưa kia. Hay khi hút thuốc lào, người Việt mình cũng có một cách riêng, đó là cho khói thuốc lọc qua nước rồi mới vào phổi. Ngay cả khi uống nước, dân ta thường uống nước trà và nước vối, vì vậy cần đun sôi, chiếc chén vì thế cũng mang nhiều bản sắc văn hóa hơn. Ví như, về mùa hè thì miệng chén tỏa ra để nước nhanh nguội, mùa đông miệng chén khum lại để giữ nhiệt.
Hơn 400 cổ vật của ông, mỗi cổ vật có một vẻ đẹp riêng. Ông thích một chiếc khay làm bằng khảm xà cừ từ thế kỷ XIX và chiếc tráp đã có gần 200 tuổi. Đó không đơn giản là sản phẩm của người thợ khéo tay mà còn cho thấy sự trưởng thành trong cách cảm nhận, yêu cầu về tính thẩm mỹ trong sinh hoạt thường ngày của người dân.