Trăm hoa đua nở…
Sự phát triển nở rộ của các nhãn hiệu nước uống đóng chai (NUĐC) tại Việt Nam thời gian qua cũng nằm trong quy luật cung cầu về hàng hóa. Khi cuộc sống người dân được cải thiện với mức thu nhập đủ để sử dụng một số loại nước có chứa các khoáng chất được xem là có lợi cho sức khỏe, hay từ bỏ một số thói quen được xem là phí thời gian như đun nước sôi để thay vào đó là những bình nước uống tinh khiết. Vì vậy, vài năm trở lại đây, số nhãn hiệu nước uống có đăng ký tiêu chuẩn tăng nhanh chóng, đó là chưa kể đến hàng chục, thậm chí hàng trăm nhãn hiệu nhái, hàng giả.
Ngoài một số doanh nghiệp lớn về NUĐC như Vĩnh Hảo, LaVie, Sapuwa… đang chiếm thị phần tương đối lớn, thời gian gần đây một số “đại gia” sản xuất các thức uống khác cũng lao vào thị trường NUĐC như Tribeco đưa ra nhãn hiệu Tri, Vinamilk cho ra nhãn hiệu Vi@qua, CocaCola với nhãn hiệu Joy, Pepsi có Aquafina. Ngành đường sắt, hàng không… cũng sản xuất NUĐC mang nhãn hiệu riêng nhằm phục vụ khách hàng của mình.
Theo thống kê của Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, hằng năm tại thành phố có không dưới 50 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất NUĐC đến đăng ký tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Đến đầu 2004, toàn thành phố có 267 cơ sở đã đăng ký và hầu hết chỉ sản xuất với quy mô hộ gia đình. Còn trên bình diện toàn quốc thì có lẽ chưa có một cơ quan chức năng nào có thể đưa ra con số thống kê chính xác có bao nhiêu nhãn hiệu NUĐC đang tồn tại.
Chất lượng: Thượng vàng hạ cám
Thông thường các cơ quan chức năng phê duyệt hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm căn cứ trên kết quả phân tích mẫu nước đã qua xử lý của doanh nghiệp. Còn việc doanh nghiệp làm thế nào để có được kết quả phân tích từ một cơ quan phân tích có thẩm quyền là chuyện của doanh nghiệp. Trong khi đó, cơ quan phân tích chỉ làm việc phân tích và cho ra kết quả mẫu nước do doanh nghiệp đem đến, còn mẫu đó lấy từ đâu thì họ hoàn toàn không cần biết.
Thạc sĩ Phạm Nhật Hồng, Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và bảo vệ môi trường cho biết, chính quy trình này đã tạo kẽ hở cho một số cơ sở làm ăn gian dối. Mẫu nước họ đưa đến phân tích không hẳn là nước đã qua xử lý từ thiết bị của họ mà có thể nước được lấy từ một nguồn khác thậm chí từ một nhãn hiệu khác chất lượng hơn, còn bản thân nước đã qua xử lý của doanh nghiệp này có thể không đạt chuẩn.
Vấn đề thứ hai liên quan đến chất lượng nước là môi trường và quy trình sản xuất. Theo ông Lê Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, trong số 267 cơ sở sản xuất NUĐC có đăng ký trên địa bàn thành phố vừa được trung tâm kiểm tra thì có đến 70% các cơ sở chưa đạt đầy đủ các yêu cầu về vệ sinh môi trường sản xuất. Phần lớn các bao bì được tái sử dụng, sử dụng phương pháp rửa bình thủ công không theo quy trình nên những bình tái sử dụng rất dễ làm nước sau khi xử lý bị tái nhiễm, trên 50% công nhân của các cơ sở này khi sản xuất không tuân thủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm… Vấn đề thứ ba làm ảnh hưởng đến chất lượng nước là quản lý của cơ quan chức năng. Sau khi được cấp phép, có giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm và đi vào hoạt động, đến nay gần như chưa có cơ quan quản lý nhà nước nào quản lý, theo dõi chất lượng nước, vệ sinh an toàn… của các cơ sở sản xuất NUĐC. Tại đợt kiểm tra của Trung tâm Y tế dự phòng thành phố vừa qua, trong số 267 cơ sở NUĐC trên địa bàn thành phố thì có đến gần 50% cơ sở hiện đang hoạt động nhưng trung tâm chưa tìm ra được địa chỉ hoặc chưa quản lý được. Theo nhận định của lãnh đạo trung tâm thì công tác quản lý tại các quận huyện còn quá lỏng lẻo dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở vuột khỏi tầm quản lý. Có những quận như Tân Bình, theo đăng ký có 28 cơ sở, thế nhưng hiện quận mới chỉ quản lý được 12 cơ sở, còn gần 60% thoát khỏi sự quản lý của cơ quan chức năng quận; Hóc Môn có 10 cơ sở thì có đến 7 cơ sở chưa quản lý được…
Định danh còn chưa rõ
Thạc sĩ Phạm Nhật Hồng, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường lấy ngay một mẫu nước giếng tại cơ quan ông (số 57A Trương Quốc Dung, quận Phú Nhuận) để phân tích, kết quả cho thấy TDS 100mg/l, hàm lượng các chất khoáng đều nằm trong giới hạn cho phép. Ông nói đùa:"Theo tiêu chuẩn Việt Nam nước ở đây cũng có thể đăng ký nhãn hiệu là nước khoáng thiên nhiên".
Ông Đặng Ngọc Cẩn, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nước khoáng Vĩnh Hảo bức xúc nói: “Với những quy định hiện nay của nhà nước rõ ràng tạo ra sân chơi không sòng phẳng. Vô hình chung nhà nước đã đánh đồng các loại nước khoáng “thứ thiệt” như Vĩnh Hảo, Tiền Hải, Thạnh Bích… với các loại nước thiên nhiên có hàm lượng khoáng từ vài chục mg/l đến dưới 500mg/l mà loại nước này thì ở đâu chẳng có”.
Hiện nay, trong rất nhiều gia đình, trường học, cơ quan… việc sử dụng các bình nước tinh khiết 20 lít để thay nước đun sôi để nguội là chuyện bình thường. Cẩn thận hơn, nhiều gia đình khá giả hoặc những vùng nước ô nhiễm thì dùng cả loại nước bình này để nấu ăn thay cho nước thủy cục hoặc nước giếng. Và hầu như mọi người đều cho rằng như thế là tốt mà không hiểu hết được ý nghĩa của hành động này. Thạc sĩ Phạm Nhật Hồng cho rằng, nước đóng chai, nước tinh khiết là loại nước chỉ đơn thuần là H2O vì qua quá trình lọc thẩm thấu, xử lý bằng ozon… các khoáng chất và vi lượng đã bị thanh lọc gần như hoàn toàn và đây gần như là loại nước cất. Nếu theo quan niệm nước khoáng có lợi cho sức khỏe thì loại nước tinh khiết chỉ còn được ưu điểm là an toàn vệ sinh, vô hại, còn nếu ai hoàn toàn sử dụng nước tinh khiết từ việc uống đến dùng để nấu ăn… thì có khi lại không có lợi cho cơ thể. Hầu hết các nhà khoa học và bác sĩ mà chúng tôi tiếp xúc đều khuyến cáo không nên quá lạm dụng nước uống tinh khiết...
Với nước khoáng, phong trào sử dụng nước khoáng bằng cách uống hoặc tắm nước khoáng... để chữa bệnh đang ngày càng gia tăng. Sử dụng nước khoáng có lợi cho sức khỏe, nhưng có lợi như thế nào, với những đối tượng nào và loại nước khoáng nào... các nhà sản xuất, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu và công bố để người tiêu dùng hiểu và sử dụng hợp lý.
Thị trường NUĐC vẫn sôi động và đang có chiều hướng đi lên. Do cách quản lý lỏng lẻo, chất lượng NUĐC đang ở mức “thượng vàng hạ cám” như hiện nay thì thật đáng lo.