Ninh Bình: Đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền tỉnh với cán bộ, hội viên nông dân năm 2026

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống Hội Nông dân Việt Nam, chiều 16/10, tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội nghị Đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền tỉnh với cán bộ, hội viên nông dân năm 2026.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: HÀ NAM)
Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: HÀ NAM)

Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình hiện có 417.124 hội viên, trong đó có 1.708 chi, tổ hội, và 129 tổ chức Hội tại xã, phường. Những năm qua, nông dân Ninh Bình đã có bước tiến rất quan trọng. Tư duy sản xuất đã có nhiều đổi mới; nhiều vùng sản xuất tập trung, mô hình liên kết, hợp tác xã được hình thành. Nhiều nông sản đã được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và tham gia Chương trình OCOP. Đến năm 2026, toàn tỉnh có hơn 1.000 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Ngày càng có nhiều hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, gắn sản xuất với thị trường.

Thực hiện chủ trương tổ chức Hội nghị đối thoại của lãnh đạo tỉnh với Hội viên nông dân, thông qua các kênh tiếp nhận thông tin, Hội Nông dân tỉnh Ninh Bình đã tổng hợp và nhận được 1.574 câu hỏi, ý kiến, kiến nghị, đề xuất của cán bộ, hội viên, nông dân toàn tỉnh.

40.jpg
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì hội nghị. (Ảnh: HÀ NAM)

Tại hội nghị đối thoại, với tinh thần cởi mở, thẳng thắn các đại biểu đã tập trung trao đổi, đối thoại sâu vào các nhóm vấn đề mà cán bộ, hội viên nông dân quan tâm. Đó là các vấn đề liên quan đến đất đai, tích tụ, tập trung sản xuất và tổ chức không gian nông nghiệp. Làm thế nào để kết nối minh bạch giữa người có đất với người có năng lực sản xuất, hình thành các vùng sản xuất tập trung nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Vấn đề thị trường, chuỗi giá trị, hợp tác xã và chế biến; nhất là giải pháp nâng tỷ lệ giá trị quay trở lại với nông dân, xây dựng liên kết bền vững giữa doanh nghiệp-hợp tác xã-nông dân, phát triển chế biến sâu, bảo quản, logistics, thương hiệu và thị trường cho nông sản.

50.jpg
Đại biểu đại diện các hội viên nông dân phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: HÀ NAM)

Vấn đề thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp; xác định những bài toán số thiết thực cho nông dân, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, thông tin thị trường, quản lý vùng sản xuất, thương mại điện tử và từng bước đưa các công cụ số, AI đến gần hơn với hợp tác xã và người sản xuất. Vấn đề về phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu; xử lý phụ phẩm, chất thải nông nghiệp, sử dụng tài nguyên hiệu quả, phát triển các mô hình sản xuất vừa nâng cao giá trị vừa bảo vệ môi trường. Thu nhập, việc làm, nông dân trẻ và sinh kế nông thôn; tạo điều kiện để nông dân, nhất là lao động trẻ, có cơ hội khởi nghiệp, làm giàu chính đáng từ nông nghiệp và các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn.

Phát huy dân chủ, trao đổi thẳng thắn, ngắn gọn, các ý kiến đã ý kiến đối thoại với người đứng đầu tỉnh và các cơ quan chức năng đã đi thẳng vào vấn đề, phân tích rõ khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đề xuất giải pháp giải quyết. Những vấn đề thuộc thẩm quyền của các sở, ban ngành đã các được làm rõ ngay tại Hội nghị. Một số vấn đề cần thêm thời gian nghiên cứu được tiếp thu đầy đủ, xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và hướng xử lý.

Phát biểu kết luận tại hội nghị, đồng chí Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình đánh giá: Các ý kiến phát biểu của các hội viên nông dân khẳng định yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo hướng hiện đại, sinh thái, hiệu quả và bền vững; chuyển từ tư duy sản xuất sang phát triển kinh tế nông nghiệp, lấy giá trị, chất lượng, thị trường và thu nhập của người dân làm thước đo.

11.jpg
Đồng chí Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: HÀ NAM)

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị các cấp, các ngành tập trung một số định hướng: Một là, rà soát, tổ chức lại không gian và sản xuất nông nghiệp phù hợp quy hoạch, điều kiện từng vùng và nhu cầu thị trường. Việc tích tụ, tập trung đất đai phải đúng pháp luật, tự nguyện, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; tăng cường kết nối giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả đất đai, không để phát sinh khiếu kiện do làm thiếu căn cứ hoặc thiếu đồng thuận.

Hai là, củng cố liên kết sản xuất theo chuỗi, nâng năng lực hợp tác xã và mở rộng thị trường cho nông sản. Các mô hình liên kết cần rõ tiêu chuẩn, trách nhiệm, phương thức tiêu thụ và chia sẻ rủi ro; quan tâm khâu bảo quản, sơ chế, chế biến, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và phân phối. Với sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng, mục tiêu là nâng chất lượng, khả năng tiêu thụ và giá trị thực nhận của người sản xuất.

Ba là, đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào những nhu cầu cụ thể của nông dân: thông tin thời tiết, dịch bệnh và thị trường; quản lý vùng sản xuất; truy xuất nguồn gốc; quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện theo chủ trương tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, lựa chọn giải pháp phù hợp, dễ sử dụng, có hiệu quả và bảo đảm an toàn dữ liệu; không chạy theo hình thức, không đặt ra mô hình hay chỉ tiêu khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định.

Bốn là, khuyến khích sản xuất an toàn, tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải và tận dụng phụ phẩm; chủ động phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo điều kiện từng địa bàn. Phát triển nông nghiệp xanh phải gắn với chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường và sinh kế ổn định của người dân.

Năm là, đặt thu nhập, việc làm và chất lượng cuộc sống của nông dân ở vị trí trung tâm. Quan tâm đào tạo nghề, kỹ năng số, việc làm tại chỗ, khởi nghiệp và chuyển đổi sinh kế; phát triển kinh tế nông thôn gắn với dịch vụ, làng nghề, văn hóa, cảnh quan và du lịch phù hợp. Việc tiếp cận tín dụng, hỗ trợ sản xuất phải được xem xét theo đúng chính sách, thẩm quyền, điều kiện và khả năng cân đối nguồn lực.

Sáu là, tiếp tục đổi mới hoạt động Hội Nông dân, bám sát cơ sở, nắm chắc tâm tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên; phát huy vai trò đại diện, giám sát, vận động và kết nối nông dân với chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã. Những khó khăn về tổ chức, điều kiện hoạt động sau sắp xếp cần được rà soát và xử lý theo đúng quy định, phân cấp và thẩm quyền.

Sau hội nghị, các ý kiến cần được tổng hợp, phân công cơ quan xử lý, theo dõi tiến độ và thông tin kết quả đến tổ chức, cá nhân kiến nghị. Đó là trách nhiệm để đối thoại tạo chuyển biến trong thực tế và củng cố niềm tin của nông dân đối với cấp ủy, chính quyền.

Có thể bạn quan tâm