"Niềm tin ấy, vẫn xanh mãi trong tôi...!"

"Niềm tin ấy, vẫn xanh mãi trong tôi...!"

...Tôi được sống trong nhiều thời điểm đặc biệt của lịch sử, thời điểm mà sức mạnh của dân tộc, lòng yêu nước của nhân dân phát sáng rực rỡ. Chẳng hạn, trong Cách mạng Tháng Tám, lần đầu tiên, tôi cảm nhận được bằng tất cả các giác quan của mình rằng, lòng yêu nước, tinh thần quật cường của dân tộc ta thật là một biển sóng thần vô bờ bến, không lực lượng nào, kẻ thù nào có thể ngăn chặn.

Và niềm tin mãnh liệt ấy, vẫn xanh tốt trong tôi, ngay cả những khi cuộc sống có những khó khăn nhất. Bây giờ, có nhiều người e ngại, nếu chiến tranh hay sự cố xấu xảy ra, chắc tinh thần của nhân dân không được như xưa. Không! Ngàn lần không.

Nhân dân sẽ lại vùng dậy, sẽ chứng minh một cách hùng hồn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Ðất nước này, dân tộc này sinh ra không phải để cho kẻ khác chà đạp!

- Thưa nhà văn, niềm tin, sự lạc quan cũng chính là cảm hứng chủ đạo trong Thư nhà và toàn bộ các tác phẩm của Hồ Phương. Nhà văn có thể kể thêm về thiên truyện này, về bút danh Hồ Phương?

- Hồi đầu cách mạng và kháng chiến, dân ta mê Cụ Hồ lắm. Nhiều người lấy họ của Cụ làm họ của mình. Anh Nguyễn Tài Uyên là một người bạn vong niên thân thiết mà tôi coi như anh, lấy tên là Hồ Trúc. Tôi thấy cái tên này hay quá. Anh Hồ Trúc sau này là Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Tôi học anh lấy họ Hồ của Bác. Còn Phương là tên của một người bạn gái thuở học sinh...

Hồ Phương là bút danh có từ thời tôi và Hữu Mai phụ trách báo Quân Tiên phong của Ðại đoàn 308. Nhưng quả thật, đến Thư nhà , cái tên Hồ Phương mới thật sự được đông đảo công chúng biết đến.

Năm 1949, khi Ðại đoàn 308 đánh xong Bản Trại, Lũng Phầy trên đường số 4 với những thắng lợi lớn thì phía Ðông Triều, nhân dân trong vùng tề ngụy sống trong cảnh đau thương không kể xiết. Hầu hết phụ nữ lọt vào tay giặc đều bị hãm hiếp, gây nhiều bi kịch trong xã hội. Ðại đoàn 308 cử một trung đội ưu tú, vũ trang mạnh vào địch hậu do đồng chí Tính làm đội trưởng, đồng chí Chính làm chính trị viên. Buổi tiễn đưa diễn ra bên bờ suối, trong một ngày đông buốt lạnh, giống như buổi tiễn biệt Kinh Kha. Người đi, người ở đều cảm khái nhưng không khỏi bùi ngùi, vì biết rằng sẽ không ít người không thể trở về. Sau đợt công tác ấy, trung đội này chỉ còn lại một nửa.

Anh Chính ôm lấy tôi: "Mình đi đây Phương ạ, lúc nào về mình lại ngâm thơ cho cậu nghe". Hai tháng sau, một tổ quay ra báo cáo tình hình, trong đó có Chính. Anh em xơ xác, tiều tụy. Chính không còn có thể ngâm thơ nữa, nhưng anh lại kể cho nghe rất nhiều câu chuyện đau thương và cảm động về địch hậu. Kỳ lạ nhất là lòng dân. Ăn cháo, ăn bẹ, bị bắt bớ... nhưng vẫn quyết một lòng theo Cụ Hồ. Sáng Tây đến ở, ban đêm ta lại làm chủ.

Những chuyện kể ấy, là tư liệu tốt nhưng trăn trở mãi, vẫn không viết được dòng nào. Càng thấm thía tài liệu dù phong phú, tuyệt vời đến đâu, cũng không làm nên tác phẩm nếu thiếu tư duy văn học.

Sáu tháng sau, khi đưa bài của báo Quân Tiên phong sang nhà in, qua Ðại Từ, ghé quán cà-phê cô Từ, nghỉ trọ ở đấy một đêm. Nổi hứng không kìm được, tôi và Hữu Mai, mỗi người một đèn, viết một mạch đến sáng, xong cái Thư nhà. Ðọc cho anh Trần Ðình Quý nghe, anh Quý khuyên nên đưa ngay cho Hội Văn nghệ, lúc đó đang có lớp học ở Thịnh Ðán, cách đơn vị ba km. Vài hôm sau, trời mưa to, có người mang áo tơi, đội nón đến tìm, hỏi Hồ Phương đâu. Ðó chính là Nguyên Hồng. Ông ngạc nhiên thấy tôi trẻ quá vì lúc ấy tôi cũng mới mười chín.

Nguyên Hồng nói: Truyện Phương đưa, mình và ông Tưởng (nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) đọc ngay, thích lắm, sẽ đăng vào Văn nghệ số 13 là số đặc biệt, gửi vào thành, nhằm giới thiệu đời sống kháng chiến và cho thấy kháng chiến cũng có văn học - một nền văn học mới khỏe khoắn, đầy tinh thần lạc quan.

Sau khi truyện được đăng, Ðại Ðoàn trưởng Vương Thừa Vũ gọi tôi lên gặp. Ông Vũ là người nghiêm và được mệnh danh là con hùm xám, lính ai cũng yêu, nhưng không phải không sợ.

Nhưng lên gặp, thấy ông cười tươi, nói: Nhiều đồng chí lãnh đạo khen cái truyện của cậu lắm. Cậu có đây đưa tớ đọc  với. Ðọc xong, ông bảo cứ thế tiếp tục viết. Từ nay, cậu có hai thứ vũ khí trong tay: cây bút và cây súng! Ðồng chí chỉ huy nói giản dị nhưng tôi coi đây là phần thưởng vô giá và là chỉ thị cho mình. Tôi nhớ mãi câu nói ấy và cả đời mình, tôi thực hiện như thế, tôi coi bất cứ việc gì có lợi cho cách mạng là hăng hái. Chọn cách tha thứ, biến mất mát thành lòng căm thù giặc sâu nặng hơn như nhân vật Lượng được trở thành một định hướng để làm công tác tư tưởng ở Huyện ủy Ðông Triều và các vùng tề ngụy.

- Vâng, đôi khi văn học có những tác động tích cực ngoài cả sức tưởng tượng. Và nhiều khi nó cũng độc hại không kém. Nhà văn có nhận xét gì về lối viết của một số cây bút trẻ hiện nay như...

- Tôi không thể nào chấp nhận kiểu viết làm tan rã niềm tin, bôi xấu về con người lại là nhân văn, lại là văn học đích thực và người viết đó lại là nhà văn. Tôi quan niệm nhà văn phải là người xây dựng niềm tin và những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Tôi rất tin tưởng ở tương lai của văn học cũng như tương lai tươi sáng của đất nước. Nhất định là cuộc sống mỗi ngày một đi lên.

- Nhưng thưa nhà văn, đó là quy luật chung. Còn hiện nay cũng có rất nhiều điều phải lo nghĩ. Nhà văn đang sống và lo nghĩ cùng đất nước như thế nào?

- Tôi là người viết văn, hằng ngày tôi vẫn viết. Bây giờ không phải để vì tên tuổi hay vì tiền nữa. Cái gì đến đã đến rồi. Tôi viết để khẳng định chân lý của cuộc sống. Còn lo lắng và thấy không ổn nhất là công tác cán bộ. Ai lại cán bộ trong chính quyền cách mạng, nhà nước vì dân mà cũng chạy chọt, mua bán được. Mua bán được cán bộ thì cái gì cũng mua bán được, các tiêu cực khác mới từ đó nảy sinh...

Mặc dù nhà văn đã chủ định dành riêng một buổi cho cuộc trò chuyện này nhưng câu chuyện vẫn bị gián đoạn bởi công việc của chi bộ, của khu phố ở tập thể Nam Ðồng, nơi nhà văn sinh sống và tham gia tích cực mọi việc chung. Ông đùa: Có người làm to rồi, chỉ coi mình là người sống ở trên cao. Ở đâu mà chẳng sống! Ở dưới cơ sở này, dân chủ tốt hơn nhưng chưa đến đâu đâu, đừng viết quá, nói quá ông ạ. Nhưng thích lắm. Con người cứ thật thà mà bộc lộ bản tính tự nhiên của mình. Và "những người dưới đáy" nhiều khi phát ra những vẻ đẹp lạ kỳ, sự cao thượng hiếm thấy. Khi nào rảnh, mời ông xuống chơi nhé. Ngày xuân ta hãy còn dài...

Có thể bạn quan tâm