Muốn tìm hiểu về lịch sử văn hóa làng Ðông Ngạc (tên nôm là Kẻ Vẽ, huyện Từ Liêm, Hà Nội), nhiều người tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Yên. Người ta cần, nhưng đôi khi cũng rất "ngại" gặp ông. Bởi hễ hỏi chuyện về một ngôi nhà thờ nào đó trong làng, về con đường làng, hay đơn giản hơn là về chiếc cổng cổ, ông Yên thường trả lời bằng một câu: "À, chuyện đó thì phải bắt đầu thế này...". Cái "bắt đầu thế này" của ông là từ những cụ A, cụ B ở làng Ðông Ngạc xưa từng học hành ra sao, làm quan thế nào, rồi đóng góp cho làng những gì để hình thành nên những công trình. Chưa kể những tục lệ của làng gắn với công trình đó...
"Ông già nhiều chuyện" Nguyễn Văn Yên đã thôi chức Trưởng thôn mấy năm nay. Nhưng cũng bởi "nhiều chuyện" mà những người yêu mến văn hóa Kẻ Vẽ vẫn tìm đến ông. Ông Yên từng có thời gian dài công tác tại địa phương. Nhớ lại chuyện cũ, đôi mắt người cán bộ già hơn 80 tuổi vẫn ánh lên niềm tự hào. Hơn nửa thế kỷ trước, năm 1962, nhân dân Ðông Ngạc đạt thành tích tốt trong công tác chống hạn, tăng gia sản xuất, xã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về chúc Tết. Ngày ấy, ông Nguyễn Văn Yên làm Chủ tịch UBND xã. Công tác tốt tại địa phương, cho nên ông Yên từng nhiều lần được điều động lên làm việc ở cấp cao hơn. Nhưng lần nào cũng thế, ông một mực xin được ở lại. Ông Yên bấm ngón tay nhớ lại, tổng cộng có bảy lần ông từ chối, vì ông có lý do riêng của mình...
Cái ngày mà kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, phần lớn người dân còn phải tất tả lo chạy ăn từng bữa, ông Yên đã dành thời gian, tâm sức tìm về cội nguồn. Năm 1984, ông đã bắt đầu "công cuộc" đi tìm hiểu lịch sử làng. Kết quả của quá trình lao động âm thầm của ông Yên là những đóng góp hết sức quan trọng vào hai cuốn sách: Xã Ðông Ngạc (NXB Hà Nội năm 1999), Lịch sử xã Ðông Ngạc (NXB Thống kê năm 2010). Người ta bảo, ông Yên có đến hai lần chép sử làng. Năm 1999, được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, ông đã viết một bản đề xuất với thành phố về công tác bảo tồn làng cổ, gìn giữ di tích, khôi phục nghề truyền thống để phát triển hoạt động du lịch. Ông Yên không học cao, nhưng có trí nhớ đến lạ kỳ khi nói về các sự kiện lịch sử của làng. Trí nhớ ấy lại được cộng hưởng với tình yêu quê hương. Với nhiều người, tình yêu thiên nhiên đôi khi là những dòng cảm xúc khó viết thành lời. Với ông Yên, tình yêu quê hương bắt nguồn từ lòng tự hào về truyền thống văn hóa của ngôi làng...
Không tự hào sao được khi Ðông Ngạc là địa phương có truyền thống hiếu học lâu đời. Kẻ Vẽ hình thành từ cuối đời Trần. Năm dòng họ lớn của làng gồm: họ Phạm, họ Hoàng, họ Phan, họ Ðỗ và họ Nguyễn. Dưới thời phong kiến, Ðông Ngạc có 21 người đỗ Tiến sĩ và khoảng 400 cử nhân, tú tài. Ngày nay, nhiều người làng Ðông Ngạc không chỉ học cao, mà còn giữ những chức vụ quan trọng trong cơ quan của Ðảng, của Chính phủ. Có người bảo rằng, Ðông Ngạc "phát" do thế đất. Nhưng trên thực tế, truyền thống hiếu học được duy trì nhờ sự giáo dục trong gia đình, dòng họ. Những câu chuyện như cụ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch ham học tới mức đêm mùa đông, lúc ngồi học, cụ lấy khăn vải tẩm nước đặt lên đùi, để không thể ngủ gật, đã được các thế hệ người làng truyền kể cho con cháu. Không những thế, sự học ở Ðông Ngạc luôn đi cùng với rèn giũa đạo đức làm người. Những năm 1950, trên báo Tia sáng có bài thơ "Cụ Cử Ðông Ngạc" mà đến giờ nhiều người vẫn rất tự hào: "Áo the vai bạc/ Quần cháo nước lòng/ Ði đứng thung dung/ Nói năng mực thước". Ðấy chính là phong cách người Ðông Ngạc. Ðã là người làng Ðông Ngạc, dù gia cảnh giàu hay nghèo, nhưng lúc nào cũng giữ được phong thái đĩnh đạc, ăn nói khiêm nhường, lễ độ. Thuở trước, hễ có khách, chủ nhà thường xin phép mặc áo the, khăn xếp đàng hoàng rồi mới ra mời nước, trò chuyện.
Ðến đất Vẽ hôm nay, tuy không còn cảnh áo the, khăn xếp, nhưng không khó để hình dung ra hình ảnh cụ Cử "thung dung, mực thước" năm xưa nếu tiếp xúc với những người lớn tuổi. Một trong những người như thế là ông giáo Ðại. Khi chúng tôi đến thăm, ông giáo đứng sẵn bên chiếc cổng cũ rêu phong đón khách. Ông giáo mình hạc xương mai, ăn nói chậm rãi, khiêm nhường. Ði qua chiếc cổng cổ là khu vườn xanh um như chuyện cổ tích. Ngôi nhà cấp bốn của ông giáo nằm nép mình dưới những tán cây. Trong căn nhà cũ kỹ ấy, là một "pho sử" sống. Ông giáo là thế hệ thứ 17 của dòng họ Phạm ở Ðông Ngạc, dòng họ từng sản sinh ra 11 tiến sĩ, với những tên tuổi nổi tiếng như: Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, hai anh em Tiến sĩ Phạm Quang Hoàn, Phạm Quang Dung, hay cụ Ðông Các Phạm Gia Ninh... Câu chuyện với ông giáo Ðại đưa chúng tôi về một thế giới cổ xưa của Ðông Ngạc, với cả bề rộng, bề sâu về học thuật. Ông giáo Ðại từng dạy Toán ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội. Mãi khi về hưu, ông mới có thời gian nghiên cứu lịch sử. Sinh ra trong một gia đình dòng dõi, ông nội là thầy đồ, cụ thân sinh ra ông tinh thông Hán học, cho nên kiến thức Hán học với ông giống như một mầm cây ủ lâu ngày chỉ chực vươn ra. Những nghiên cứu của ông giáo Ðại mang tính học thuật uyên thâm, góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều điều về vốn văn hóa dày dặn của Ðông Ngạc.
Người Ðông Ngạc coi trọng học vấn. Dân gian có câu "thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ". Nếu thi không đỗ đạt cao để làm quan, thì họ làm thầy đồ, làm nghề thuốc. Bởi thế, thư tịch về Ðông Ngạc, trước tác của các bậc Nho học Ðông Ngạc là một kho tư liệu đồ sộ. Ông giáo Ðại chọn ra những cuốn mà nhiều người cần nhất để dịch. Cuốn Ðông Ngạc xã chí được ông hoàn thành năm 2007. Cuốn sách này từng được Viện Hán Nôm dịch. Nhưng do người dịch không thông thuộc phong thổ của làng, cho nên một số thuật ngữ dịch chưa chính xác. Ðông Ngạc xã chí vừa tập hợp nhiều bài viết về các sự kiện của làng, về nội dung các tấm văn bia ở làng từ đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Cuốn sách vừa là cuốn biên niên sử, vừa nói lên phong tục tập quán, từ những câu chuyện chốn đình trung, đến chuyện tu sửa di tích, cho đến lập chợ, tiền thuế khóa, những quy định của làng... Nó giống như cuốn "Bách khoa thư" về Ðông Ngạc. Qua cuốn sách này, người ta hiểu thêm rất nhiều về các phong tục, tập quán của làng cổ Bắc Bộ. Ông giáo Ðại mất gần mười năm mới hoàn thành cuốn sách dày gần trăm trang khổ A4. Năm 1998, ông giáo Ðại viết cuốn Lịch sử đình Vẽ. Thấy cuốn sách còn sơ sài, ông dành thêm mười năm nữa để hoàn thiện. Năm 2008, ông mới hoàn thành tác phẩm Cuốn sách viết về lịch sử đình, nhưng thực tế, đó còn là lịch sử của ngôi làng. Một trong những phần khó nhất là dịch hệ thống câu đối và 43 đạo sắc phong ở đình. Có những từ khó, ông trăn trở nhiều đêm liền mới tìm ra cách dịch sao cho sát nghĩa. Nhiều cán bộ khoa học thấy công trình có giá trị, khuyên ông đem đến nhà xuất bản in ấn. Ông giáo chỉ cười. Bởi với ông giáo, làm được tác phẩm này đã giúp ông thỏa một tâm nguyện duy nhất. Ðó là để cho con cháu đời sau hiểu và phát huy truyền thống của làng.
Ðông Ngạc vốn có nhiều nhà cổ. Năm tháng trôi qua, nhiều ngôi nhà cổ bị biến mất trước "cơn lốc" bê-tông hóa. Ông giáo Ðại nhẩm tính, có hàng chục ngôi nhà cổ mất đi, thay vào đó là những ngôi nhà cao tầng. Nhưng không thể trách người dân. Số dân ngày một đông, nhu cầu ăn ở, sinh hoạt ngày một bức thiết, trong khi nhà cổ xuống cấp, sửa chữa tốn kém. Dẫu vậy, dấu ấn xưa cũ vẫn hiển hiện khắp nơi. Nhiều ngôi nhà vẫn giữ nguyên những chiếc cổng xây từ hàng trăm năm trước, với những đôi câu đối thể hiện sự trọng học vấn hoặc những lời huấn dạy con cháu. Ðến nay, Ðông Ngạc vẫn còn hơn 20 ngôi nhà thờ họ. Trong đó, đẹp nhất, nổi tiếng nhất là nhà thờ họ Ðỗ. Làng cũng có nhiều nhà cũ, nhà xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp xen lẫn phong cách trang trí Á Ðông. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đang xây dựng đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở Ðông Ngạc, xây dựng điểm đến du lịch". 13 năm sau ngày "ông già nhiều chuyện" Nguyễn Văn Yên viết đề xuất bảo tồn làng cổ, hướng đến du lịch, ý tưởng ấy mới dần có cơ hội trở thành hiện thực. Khoảng thời gian đủ dài để người ta thấy tiếc khi những ngôi nhà cổ cứ mất dần. Thế nhưng, vẫn có cơ sở để đặt nhiều hy vọng, nhất là khi đất Vẽ còn những cái đáng quý hơn những di sản văn hóa vật thể. Ðó chính là tấm lòng của người dân với di sản văn hóa, cả vật thể và phi vật thể. 30 năm trước, khi ông Nguyễn Văn Yên bắt tay vào tìm hiểu sử làng, ông không nghĩ rằng sau ông lại có những người nối tiếp nghiên cứu, thậm chí còn sâu sắc, dày dặn và khoa học hơn. Hẳn sau ông giáo Ðại, lại có những "ông giáo" khác, tiếp tục con đường ấy. Người Ðông Ngạc tiếp tục phát triển về đường học hành. Tính từ năm 1930 đến giờ, làng có đến gần một trăm tiến sĩ. Không chỉ công tác ở trong nước, làng có đến hàng chục giáo sư, tiến sĩ làm công tác nghiên cứu khoa học ở các nước trên thế giới... Lớp trẻ Ðông Ngạc cũng thế, mấy năm gần đây, năm nào xã Ðông Ngạc (gồm cả làng Nhật Tảo) cũng có trên dưới 100 học sinh đỗ đại học. Ông giáo Ðại bảo rằng, người Ðông Ngạc đi ra ngoài rất nhiều và phần lớn đều thành đạt. Nhưng làm rạng danh cho quê hương Ðông Ngạc, không chỉ có những người ra ngoài, với học hàm, học vị cùng nhiều chức danh cao quý, mà còn bởi những người bình dị, kiên trì ở làng "giữ lửa" truyền thống như ông "cựu trưởng thôn" Nguyễn Văn Yên, ông giáo Ðại. Ðiều đó giúp chúng ta hiểu vì sao truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học ở ngôi làng qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn mãi vững bền...