với những Trước ngày 19-12-1946, ngày nổ súng toàn quốc kháng chiến độ năm hôm, tuyến xe điện Hà Nội đi Hà Ðông không còn hoạt động. Tình hình hết sức khẩn trương, giặc Pháp gây hấn, ngang ngược khiêu khích bắn giết đồng bào ta, xe tăng, xe bọc thép ngang nhiên chạy khắp các phố húc bừa vào nhà đồng bào. Lòng căm thù của nhân dân đã tăng lên đỉnh điểm, ý chí chiến đấu bảo vệ thủ đô đã tràn ngập trong lòng mọi người. Tất cả đều sẵn sàng chiến đấu.
Hà Ðông là hậu phương trực tiếp của mặt trận Hà Nội. Ở làng Vạn Phúc nơi Bác Hồ đang làm việc, còn ở làng Do Lộ có Văn phòng Trung ương Ðảng sơ tán. Bộ chỉ huy cơ bản của Hà Nội cũng được đặt tại phía đầu thị xã Hà Ðông. Theo chỉ thị của trên, Hà Ðông tổ chức một đơn vị tiếp tế đạn dược cho mặt trận Hà Nội.
Ðược sự giúp đỡ của Bộ Quốc phòng, của cơ quan lãnh đạo Hà Ðông và cụ Hoàng Ðạo Thúy, một đội thiếu niên Hướng đạo thị xã Hà Ðông gồm khoảng 20 em, tuổi từ 12 đến 16 được thành lập do hai huynh trưởng là anh Phạm Văn Tá và Hoàng Thọ Anh phụ trách. Ðội được mang tên là "Ban tiếp tế võ khí khu đặc biệt", ngày thành lập mỗi người được cấp một tấm giấy chứng nhận có đóng dấu nổi của Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Tạ Quang Bửu ký. Ngày họp mặt ra quân ở tại một căn nhà số 104C cuối phố Quang Trung, thị xã Hà Ðông.
Ông Hoàng Thọ Anh kể lại: Ngay đêm hôm nhận nhiệm vụ chúng tôi đã thực hiện chuyến đầu tiên, hàng vận chuyển toàn là đạn pháo. Ðạn chất đầy mấy chiếc xe bò và được chằng buộc cẩn thận. Anh em chúng tôi lớn thì cầm càng, bé thì đẩy xe hoặc cầm đèn bão đi trước soi đường. Chuyến đầu tiên đưa đạn ra đến Cầu Mới vào khoảng hơn 12 giờ đêm, được Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đón, kiểm tra và hướng dẫn và giao cho bộ phận khác vận chuyển đến các đơn vị pháo ở Láng và các nơi khác.
Từ đó, đêm nào chúng tôi cũng bắt đầu ra đi từ 7 giờ tối để đến kho nhận và chất hàng lên xe bò, kịp ra Cầu Mới. Bàn giao xong rồi quay về số nhà 104C thường là 2, 3 giờ sáng. Liên tục vận chuyển được bảy đêm, mang được một số khá lớn đạn pháo ra Hà Nội thì đêm 19-12 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hàng vận chuyển của chúng tôi lúc này, ngoài đạn pháo còn có thêm các loại đạn cối 60, phóng lựu đạn, Stock và cả một số hàng quân nhu khác để tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu ở Ô Chợ Dừa, Bạch Mai... Khi đường Hà Ðông - Cầu Mới đã dựng đầy ụ chướng ngại và bị đào thành hầm hố để ngăn chặn xe tăng địch, chúng tôi không thể kéo xe bò đi được nữa. Làm thế nào đây? Thấy đường ray xe điện vẫn còn sử dụng được, anh em liền bàn nhau đấu luôn hai toa tàu điện còn lại ở bến đầu cầu Hà Ðông để xếp đạn lên đẩy ra Cầu Mới. Tuy phải thêm một lần vất vả xếp hàng từ xe bò lên toa xe điện nhưng lượng hàng vận chuyển lại tăng rất nhiều. Những toa xe điện xinh xắn trước đây vẫn rộn rã chạy trên đường sắt với tiếng chuông leng keng, tới nay lại lầm lũi, lặng lẽ lăn bánh trong đêm tối chở đạn ra mặt trận để dội xuống đầu thù. Có đẩy mới biết đường xe điện thật sự cũng lắm "đèo" lắm "dốc". Có những chỗ không cần đẩy, toa xe đầy đạn vẫn cứ lăn bánh nhẹ nhàng, nhưng lắm chỗ dù đã lấy hết sức cũng chỉ làm cho nó nhích đi từng xăng-ti-mét. Vận chuyển bằng xe điện thêm mấy đêm thì đường xe điện lại bị quân ta bóc đi để thực hiện việc phá hoại đường giao thông, ngăn bước tiến quân địch. Chúng tôi phải xoay sang kết hợp giữa vận chuyển bằng xe bò với đôi vai và cặp chân của chính mình. Ðạn được đựng trong ba-lô mà trước đây vẫn dùng để đi cắm trại. Với đạn pháo, mỗi anh lớn phải mang hai, em nhỏ mang một đầu đạn. Các loại đạn khác tùy sức mang nhiều hay mang ít. Cứ như kiến tha lâu đầy tổ, bằng cách này chúng tôi vẫn đáp ứng được yêu cầu vận chuyển của cấp trên giao cho trong những ngày gian khó.
Công việc này tiến hành được khoảng mười chuyến trước ngày 19-12-1946, góp phần xứng đáng, có hiệu quả vào nhiệm vụ phục vụ chiến đấu cho Mặt trận Hà Nội. Một tuần sau địch phát hiện và cho máy bay đến ném bom thị xã Hà Ðông và dọc tuyến đường tàu điện từ Cầu Mới đi Hà Ðông. Ðội thiếu niên tạm xa mặt trận và phân tán, người vào quân đội, người sang quân giới, người làm giao thông liên lạc cho Bộ Quốc phòng. Những năm gần đây các thiếu sinh Hướng đạo hậu cần ngày ấy mới tổ chức họp mặt kỷ niệm những tháng năm chiến đấu hào hùng. Nay các cụ đã trên dưới 70 tuổi. Nhiều thiếu niên ngày ấy giờ đã trưởng thành và là những cán bộ cao cấp của quân đội:
Ðại tá Bạch Ngọc Giáp ngày ấy mới 12 tuổi trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ là trung đội trưởng của Ðội pháo binh 806 đánh trận Him Lam mở màn chiến dịch ngày 11-3-1954. Kết thúc chiến dịch Ðiện Biên Phủ đại tá Bạch là một trong năm chiến sĩ xuất sắc đại diện cho các Ðại đoàn chủ lực tham chiến ở Ðiện Biên được về Việt Bắc mừng thọ 64 tuổi của Bác Hồ. Ðại tá Trần Quốc Hanh chiến đấu tại Ðiện Biên Phủ mới 19 tuổi, là cán bộ đại đội của tiểu đoàn 418 trung đoàn 57 đại đoàn 504 chiến đấu ở Hồng Cúm phía nam Mường Thanh bị thương thủng sáu khúc ruột khi đang ở hàng rào thứ ba trước một ngày toàn thắng Ðiện Biên Phủ 7-5. Hiện nay, ông về hưu tại phường Nguyễn Trãi. Trước khi về hưu ông là Bí thư Ðảng ủy Học viện Không quân. Ðại tá Nguyễn Văn Chí ngày tham gia Hướng đạo 16 tuổi, sau này gia nhập thiếu sinh liên lạc Bộ Quốc phòng rồi đi học sĩ quan lục quân khóa 5-1949 (khóa chuẩn bị tổng phản công), sau ra đơn vị chiến đấu, cán bộ tiểu đoàn của Trung đoàn 174 đại đoàn 316 trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Anh là một trong những thiếu sinh quân liên lạc của Bộ Quốc phòng được khen thưởng đầu tiên năm 1947.
Ông Hoàng Thọ Anh ngày ấy là đội phó thiếu niên hướng dẫn các em vận chuyển vũ khí chiến đấu Ðiện Biên ông là tiểu đoàn phó một đơn vị pháo binh. Tháng 1-1955 ngày đón Bác Hồ về thủ đô sau chín năm kháng chiến, ông được vinh dự chỉ huy tiểu đoàn pháo binh bắn 21 loạt đại bác mở đầu cho Lễ duyệt binh.
Và còn nhiều các thiếu niên ngày ấy, như bác Trần Văn Nhâm, Hoàng Thọ Tuyến, Nguyễn Văn Minh, v.v. đều là những cán bộ quân đội trưởng thành trong chiến đấu.
Một ngày cuối thu các thiếu niên thuở ấy họp mặt chuẩn bị kỷ niệm toàn quốc kháng chiến. Từ những chú nhi đồng ngày ấy đến các cựu chiến binh hôm nay và những nhà khoa học, những cán bộ của Ðảng và Nhà nước đều tự hào phấn khởi là đã đi suốt một chặng đường vẻ vang dưới sự lãnh đạo của Ðảng, của Bác Hồ và sự đùm bọc của nhân dân. Bất giác tôi nhớ lại câu thơ thời Trần.
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên phong.
Nhìn lại hơn 50 năm qua, từ trong sâu thẳm của tâm hồn, chúng tôi vẫn thấy ấm áp, trẻ trung, thanh thản và tự hào khi nhớ lại những tháng ngày sôi động, hào hùng ở Ban tiếp tế khí giới và quân khu tại khu đặc biệt Hà Nội năm 1946".