- Thưa bà, những đơn vị nào được Cục DSVH đề nghị lập danh sách hiện vật đặc biệt quý hiếm để xét chọn bảo vật quốc gia lần đầu này?
- Theo thông báo của Cục Di sản văn hóa, các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng thuộc lực lượng vũ trang và các địa phương, sở VHTT và ban quản lý di tích danh thắng các tỉnh thành tiến hành nghiên cứu phân loại các di vật, cổ vật đang lưu giữ, kể cả trong các sưu tập tư nhân, nhằm lập danh sách hiện vật đặc biệt quý hiếm. Theo chủ trương đó, vừa qua bảo tàng chúng tôi đã tiến hành phân loại. Trong hơn 33.000 hiện vật mà chúng tôi đang lưu giữ (trước năm 1975 chỉ có gần 5.000 hiện vật), chứa trong 10 kho bảo quản với diện tích 1.000m2, chúng tôi chọn được 171 hiện vật đặc biệt quý hiếm báo cáo Sở VHTT đề nghị Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia thẩm định thuộc loại bảo vật quốc gia.
- Việc chọn lựa được tiến hành theo các tiêu chí nào?
- Các hiện vật phải nguyên gốc và độc bản, có hình thức độc đáo, đồng thời có giá trị tiêu biểu về mặt lịch sử, văn hóa hay khoa học. Và đó cũng là những tiêu chí xét công nhận bảo vật quốc gia đề cập trong khoản 3 - điều 2 Nghị định số 92/2002 NĐ-CP của Chính phủ.
- Những hiện vật được bảo tàng chọn lựa để đề nghị xét công nhận bảo vật quốc gia đợt này gồm những sưu tập nào?
- Chủ yếu thuộc các sưu tập văn hóa Đông sơn, văn hóa Đồng Nai, văn hóa Óc Eo, văn hóa Chăm và các sưu tập cổ vật chất liệu đồng, gốm - sứ, gỗ, ngà, vải... thuộc các thời: 1.000 năm Bắc thuộc, Lý, Trần, Lê, Nguyễn... Trong đó có gần 30 hiện vật bằng vàng như các loại nhẫn, các vật trang trí hình hoa, hình rùa, các chuỗi hạt xinh xắn có niên đại cách nay từ hơn 1.400 đến 2.000 năm, hay trong sưu tập đồ gỗ thời Nguyễn có chiếc sập khảm ngà, bình phong ba tấm, giá gỗ có đề thơ Minh Mạng trên mặt đồng pháp lam...
- Sau ngày gửi danh sách đề nghị, trình tự công việc sẽ tiếp tục ra sao?
- Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia sẽ tổ chức thẩm định. Kết quả thẩm định được gửi lên Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, chỉ khi nào Thủ tướng ra quyết định công nhận thì hiện vật đó mới được chính thức gọi là bảo vật quốc gia. Nếu là bảo vật quốc gia, thì với khoản 1 - Điều 42 của Luật DSVH, sẽ được bảo vệ và bảo quản theo chế độ đặc biệt.
- Chắc hẳn đây cũng là dịp rà soát lại công việc chuyên môn và quản lý hơn ba vạn hiện vật mà Bảo tàng Lịch sử Việt Nam -TP Hồ Chí Minh lưu giữ?
- Đúng vậy. Ngoài những hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, bảo tàng chúng tôi còn tiến hành thêm một công việc quan trọng nữa là chọn lựa được 8.309 hiện vật trong 39 sưu tập tiêu biểu của bảo tàng để xếp loại cổ vật quý hiếm. Số còn lại là những cổ vật có giá trị ít hơn, hoặc những di vật theo khái niệm của Luật DSVH. Việc phân loại như thế sẽ giúp chúng tôi quản lý và sử dụng tốt nguồn hiện vật có trong bảo tàng, đồng thời có kế hoạch tiếp tục sưu tầm bổ sung để các sưu tập cổ vật ngày càng thêm đa dạng, phong phú và hoàn thiện hơn.
“Bảo vật quốc gia - được Chính phủ và Bộ Văn hóa -Thông tin nêu rõ trong các văn bản đã ban hành - phải thể hiện: là vật chứng của một sự kiện lớn, hoặc gắn bó với sự nghiệp của các anh hùng, danh nhân, là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại. Được gọi là bảo vật quốc gia còn bao gồm những sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu từng mang lại lợi ích xã hội và thúc đẩy sự phát triển văn hóa một thời”. (TS Đặng Văn Thắng - Giám đốc Bảo tàng TP Hồ Chí Minh).
Pho tượng hoàng gia - một hiện vật được đề xuất
Pho tượng hoàng gia. |
Đó là pho tượng gỗ cao 1,90m sơn son thếp vàng (nay đã mờ) hiện trưng bày ở phòng chính của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP Hồ Chí Minh. Pho tượng này do triều Nguyễn gửi tặng chùa Khải Tường ở đất Gia Định xưa (chùa này nay không còn). Theo tài liệu, vị trí cũ của chùa nằm ở khu vực ngã tư Võ Văn Tần - Lê Quý Đôn, quận 3, TP Hồ Chí Minh, một phần hiện thuộc khuôn viên Bảo tàng chứng tích chiến tranh.
Theo TS Trần Hồng Liên, chùa Khải Tường lập năm 1752. Thời Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam tránh sự truy lùng của Tây Sơn đã đến ẩn náu tại chùa. Hậu liêu của chùa là nơi hoàng tử Đởm (tức vua Minh Mạng sau này) sinh ra (năm Tân Hợi). Lên ngôi, Minh Mạng sắc phong chùa là "Quốc Ân Khải Tường Tự". Chính ở đây, ngày 7-12-1860 Trương Định đã giết chết viên đại úy thủy quân lục chiến tên Barbé nên Pháp gọi chùa là La Pagode Barbé (chùa Barbé) và sau đó phá hủy, lấy đi hoặc đập phá tất cả đồ thờ và pháp khí trong chùa.
Còn pho tượng? Cụ Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa khá rõ: “Từ năm 1867, chùa bị dẹp, tượng Phật (bằng gỗ mít) phải dời về nương náu nhiều nơi, cùng số phận với Hội cổ học Ấn Hoa, khi đường Tự Đức, khi đại lộ Thống Nhất (chỗ hãng máy bay Air France) mặc cho mối ăn mọt khoét”. Theo nhiều nhà nghiên cứu, "pho tượng hoàng gia" này xứng đáng là bảo vật quốc gia cần được bảo quản đúng theo chế độ đặc biệt do chính phủ quy định.
Một số bảo vật qua mắt các nhà khảo cổ
Nghe thông tin về việc xét chọn bảo vật quốc gia, không ít nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật chợt nhìn lại một cách bao quát giá trị văn hóa nghệ thuật của "những sứ giả đến từ quá khứ" bằng đá, bằng đồng, bằng gỗ, như tượng thần Ganesa.
Hiện vật đặc biệt quý hiếm thuộc văn hóa Óc Eo. |
Theo TS Bá Trung Phụ, Ganesa vọt ra từ ngọn lửa trên trán thần Siva. Thoạt đầu Ganesa mang hình dạng một đứa trẻ mặt mũi khôi ngô, về sau do sự ghen tức của nữ thần Pravati dẫn đến lời nguyền khiến Ganesa bị biến dạng thành thân người đầu voi và bụng to ra, trông quái dị. Tuy vậy nơi nào có Ganesa là nơi ấy được sưởi ấm bằng an vui và no đủ sung túc, vì Ganesa là vị thần bếp của mọi phương trời. Trôi dạt theo đường giao lưu văn hóa đến miền đất phương Nam nước ta, hình tượng Ganesa trong mỹ thuật Óc Eo đã thâu nhiếp một số yếu tố truyền thống văn hóa Ấn Độ một cách sáng tạo.
Thật thiếu sót nếu chỉ nói đến tượng đá như Ganesa. Vì cạnh đó, có nhiều tượng bằng chất liệu khác mang giá trị đặc biệt quý hiếm như tượng Phật bằng gỗ sao, màu nâu đen mà Hoàng Nghị và Nguyễn Anh Tuấn ghi nhận: Cao 2,44m, ngang 0,65m, đứng trên tòa sen, có niên đại thế kỷ thứ V, được phát hiện cách đây 61 năm (1943) bởi nhà khảo cổ học người Pháp Louis Mallet trong một cuộc khai quật ở Sa Đéc. Tóm lại, theo TS Phạm Hữu Công: “Một số nét đặc trưng trên các hình tượng người, tượng Phật Óc Eo cho thấy nét đa dạng châu Âu, Bắc Á, Trung Á, Ấn Độ, Đông Nam Á của cư dân Óc Eo thời cổ". Những hiện vật đó nói lên đặc điểm một vùng đất cảng thị, nơi mà "sự phát triển kinh tế đã thu hút mọi sắc dân đến sinh sống" và để lại khá nhiều đồ trang sức bằng vàng, bạc. Theo Trần Thị Thanh Đào, riêng sưu tập cổ vật có chất liệu vàng thuộc văn hóa Óc Eo đã "chiếm tỷ lệ 1/5 trong tổng số hiện vật" tức gồm 337 món, trong đó một số có thể mang ra thẩm định theo tiêu chí bảo vật quốc gia như: nhẫn bò Nandin, nhẫn có tạc hình sao 8 cánh, hoặc hình tròn răng cưa, hoa tai có mặt trăng khuyết, hoa tai mặt vuông, chạm nổi và khắc chữ, chuỗi hạt (14 hạt) cẩn nổi hoa văn...
Cuối cùng là sưu tập đồ gốm. Đôi khi chúng chỉ là những mảnh vỡ từ một bếp lửa "cà ràng", một dọi se sợi, một cái chày nghiền, chạc gấu, hoặc bình ấm sứt vòi, song ghép lại thành "những trang sử đất" được bóc lên và lật đọc về xã hội của cư dân cổ sông Cửu Long, Vàm Cỏ, Đồng Nai. Vì vậy, theo TS Nguyễn Thị Hậu, dầu không rực rỡ tinh xảo như các đồ trang sức hoặc hoành tráng, diễm lệ như các tượng bằng đồng, bằng đá, nhưng đồ gốm "không kém phần độc đáo vì đã thể hiện đặc trưng và nguồn gốc bản địa của một nền văn hóa". Điều đó khiến nhiều "sứ giả" trong vô vàn đồ gốm xưa xứng đáng được đề nghị chọn là những bảo vật quốc gia.