40 năm đã trôi qua, các chiến sĩ trung đội tự vệ ngày ấy nay đều đã lên chức ông, chức bà. Mỗi lần gặp mặt nhau, họ lại bùi ngùi nhớ về những ngày chiến đấu không thể nào quên. Những vần thơ "Ngày ấy... khẩu đội chúng tôi/ Anh đứng máy phay/ Em là cô thợ nguội/ Súng quàng vai, ngày bên nhau đứng máy/ Anh luyện hướng tầm/ Em bắn mục tiêu..." do anh Nguyễn Văn Trung, cán bộ phòng Kỹ thuật của nhà máy sáng tác hồi đó thường được mọi người đọc cho nhau nghe. Trung đội tự vệ của nhà máy gồm 11 người, phụ trách hai khẩu pháo phòng không 14,5 mm. Thường xuyên trực chiến trong 12 ngày đêm lịch sử là tiểu đội gồm sáu chiến sĩ: khẩu đội trưởng Thái Văn Quang, các chiến sĩ Phạm Thị Viễn, Ðỗ Thị Dần, Ngô Thị Hiếu, Nguyễn Văn Trung và Ðặng Văn Sinh. Tất cả đều là các công nhân ở phân xưởng nguội, đúc, nhiệt luyện... của nhà máy. Những ngày đầu chiến dịch, trung đội nhận nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại trận địa pháo 100 mm của Quân chủng Phòng không - Không quân đặt cách nhà máy 300m. Ai cũng hăng say luyện tập và chiến đấu. Vừa hết giờ sản xuất là có mặt tại trận địa pháo, bất kể ngày hay đêm đều sẵn sàng trực chiến, tháo lắp ngòi nổ, chuyển đạn, cứu thương, cứu sập hầm...
Ngày 22-12, trung đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Ðộng nhận lệnh cơ động ra bãi Vân Ðồn ở ngoài đê sông Hồng, cùng với các chiến sĩ tự vệ của Nhà máy Cơ khí Lương Yên và Nhà máy Gỗ. Mọi người tranh thủ về nhà gặp người thân, chuẩn bị lương thực cho những ngày chiến đấu căng thẳng. Dưới sự chỉ huy của Trung úy Hoàng Minh Giám, sĩ quan được Quân khu Thủ đô điều về hỗ trợ, liên đội tự vệ đã trụ vững trong những ngày khói lửa với năm khẩu pháo cao xạ, sẵn sàng "đón lõng" máy bay tiêm kích của địch.
Trong số các máy bay quân Mỹ sử dụng để bắn phá Thủ đô, F-111 là loại máy bay hiện đại, vốn được mệnh danh là "kẻ đột nhập thần kỳ" với nhiều ưu thế như tốc độ bay lớn, có lắp thiết bị tự động khống chế độ cao, cho nên không bị phụ thuộc vào địa hình, vừa có thể chiến đấu trên cao, vừa có thể hạ thấp (cách mặt đất 50m), rất khó phát hiện và bắn trúng. Ðể đối phó với máy bay F-111, quân đội ta đã sử dụng biện pháp phục kích "đón lõng". Hệ thống đài quan sát bố trí quanh Thủ đô nắm nhiệm vụ phán đoán đường bay F-111 thường bay qua, kịp thời phát hiện và thông báo cho các đơn vị. Lực lượng dân quân, tự vệ được bố trí thành những trận địa phục sẵn, luôn ở chế độ trực chiến. Tất cả các súng, pháo đều được lên nòng, hướng về phía đã định sẵn, chỉ cần có lệnh là bắn ngay. Hàng loạt lưới lửa dựng thành một màn đạn dày và sâu, chặn đứng đường bay của F-111.
Kể về đêm bắn rơi chiếc máy bay F-111 của địch, bà Phạm Thị Viễn cho biết: "Ðêm 22-12 đến ca trực của đội tự vệ Công ty Mai Ðộng. Khoảng 20 giờ 30 phút có báo động, chúng tôi củng cố trận địa, sẵn sàng chiến đấu. Lúc đó, cả Hà Nội chìm trong tiếng bom đạn, ánh mắt mọi người chăm chú quan sát bầu trời, sẵn sàng chiến đấu. Lúc phát hiện một tốp máy bay F-111 trên bầu trời, anh Hoàng Minh Giám hạ lệnh bắn. Năm khẩu pháo đồng loạt tiến công. Tôi ở vị trí pháo thủ số 1 nên quan sát rõ phần đuôi của một chiếc F-111 lóe sáng. Chừng nửa tiếng sau, một chiếc xe quân sự của quận đội Hai Bà Trưng đi đến. Người sĩ quan xuống xe, hồ hởi thông báo cho chúng tôi: "Các chị vừa bắn hạ một chiếc F-111 rồi nhé!". Chúng tôi ôm lấy nhau, vui mừng khôn xiết".
Chiến công đêm 22-12-1972 đã cổ vũ các chiến sĩ đội tự vệ tiếp tục bám sát trận địa, kiên cường bên những mâm pháo giữa đạn bom ác liệt. Mấy ngày sau đó, pháo thủ Phạm Thị Viễn nhận được tin báo, bố đẻ của chị bị trúng bom giặc. Chiếc hầm trú bom của ông chỉ còn lại là đống đổ nát sâu hoắm. Phải ba ngày sau mấy chị em chị mới tìm được phần thi thể không còn nguyên vẹn của ông, nhờ vào mảnh áo bông và tấm chứng minh thư. Gạt nước mắt, nữ chiến sĩ tự vệ vẫn kiên cường sát cánh cùng đồng đội, biến đau thương thành động lực chiến đấu. Khi đến thăm, tặng hoa động viên các cán bộ, chiến sĩ tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Ðộng, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Tố Hữu vô cùng xúc động khi nhìn thấy nữ tự vệ trẻ chít khăn tang trắng, vững vàng bên mâm pháo. Nhà thơ Tố Hữu đã cảm động, viết nên những vần thơ trong tập thơ Việt Nam máu và hoa: "... Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu/ Hỡi em gái mất cha mất mẹ/ Nước mắt em làm nhòa mặt quân thù/ Em phải bắn trúng đầu giặc Mỹ...".
Với mỗi chiến sĩ trung đội tự vệ, những ngày tháng khói lửa đó dù đã lùi xa, nhưng niềm tự hào về tinh thần chiến đấu và tình yêu với Hà Nội vẫn luôn rực cháy trong tim.