Những bức ảnh về Hà Nội thời bao cấp của Eva Lindskog

Những bức ảnh về Hà Nội thời bao cấp của Eva Lindskog

Gặp Eva Lindskog trước giờ khai mạc triển lãm, chiều 29-9, chúng tôi ngạc nhiên bởi vẻ ngoài trẻ trung so với tuổi  60 của chị, và đặc biệt, chị nói tiếng Việt rất tốt.

- Hơn hai mươi năm trước, Việt Nam vừa trải qua chiến tranh và trong thời kỳ bao cấp, chị đã chụp những bức ảnh đó như thế nào?

- Tôi đến Hà Nội lần đầu tiên vào tháng 3-1975. Tôi đã từng đăng ký vào chiến trường Quảng Trị, nhưng khi đó, chiến tranh đang ác liệt nên một người nước ngoài như tôi không được phép vào. Sau đó, quay lại Việt Nam vào năm 80 để học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Vào năm 1986 tôi  quay lại Việt Nam lần nữa để làm việc trong một dự  án do Chính phủ Thuỵ Điển hỗ trợ  tại Nhà máy giấy Bãi Bằng, với thói quen thích chụp ảnh, tôi gần như lang thang khắp Hà Nội với máy ảnh trong tay. Mặc dù không gặp khó khăn gì, nhưng tôi cũng không thể tiếp xúc trực tiếp với mọi người ở đây. Tôi quan sát từ xa, và tôi chụp, với một cảm giác tò mò lạ lẫm. Những bức ảnh của tôi cũng chỉ là từ bên ngoài, về những hình ảnh lần đầu tiên tôi nhìn thấy, và quá khác xa với những gì quen thuộc ở đất nước tôi, Thuỵ Điển, lúc bấy giờ.

- Đây có phải lần đầu tiên chị mang những bức ảnh của mình triển lãm?

- Đúng, đây là lần đầu tiên sau 25. Hồi đó tôi chụp rất nhiều, và bao nhiêu năm nay tôi vẫn cất trong tủ như một kỷ niệm. Cho đến khi tôi gặp anh Cương (hoạ sĩ Lê Thiết Cương) anh ấy biết và đề nghị tôi cùng hợp tác làm triển lãm này. Tôi rất vui. Không ngờ sau 25 năm, những bức ảnh của tôi lại làm cho người xem  xúc động. Rất nhiều người bạn Việt Nam cùng thế hệ tôi nói, những bức ảnh làm cho  họ nhớ lại một thời cực khổ. Còn những người trẻ hơn thì lại nói là những bức ảnh này giúp họ hình dung rõ hơn về một thời đại mà họ không được chứng kiến. Tôi không nghĩ là bức ảnh  của mình lại có giá trị như vậy.

- Dưới mắt của một nhà xã hội học, bây giờ  nhìn lại những bức ảnh chính mình chụp cách đây hơn 25 năm, chị nghĩ thế nào về giá trị của những hình ảnh đó?

- Khi tôi từ Thuỵ Điển đến Việt Nam, tôi thấy Hà Nội rất nghèo. Nhưng nghèo không phải là lý do để tôi chụp những bức ảnh đó. Tôi không bao giờ chụp một người có hoàn cảnh đặc biệt, mà không có lý do cụ thể. Nếu bạn để ý nhìn kỹ, trong những bức ảnh tôi chụp, chỉ là quang cảnh, là một tập thể, một đám đông, một sự kiện hay sinh hoạt nào đó có ý nghĩa trong đời sống xã hội. Khi ghi lại hình ảnh những quầy hàng tết thời bao cấp, một toa tàu đông đúc hành khách, hay một điểm vui chơi công cộng trong ngày lễ… tôi thoạt đầu chỉ muốn tìm  hiểu về đất nước mà mình đang đến. Tôi nhìn thấy ở đó những cố gắng  của người dân để vượt qua khó khăn của một giai đoạn lịch sử, khi đó, chiến tranh vừa kết thúc. Nhưng sau đó, khi có nhiều dịp quay lại và gắn bó với Việt Nam, tôi nhìn thấy trong đó sự thay đổi. Khi  tôi đến phố Hàng Đào hôm nay chẳng hạn, tôi thấy đã khác hoàn toàn. Tuy nhiên, trong sự thay đổi rất dễ nhận ra ấy, tôi cũng thấy, xã hội Việt Nam có những điều không thể thay đổi. Những giá trị truyền thống nằm sâu bên trong vẫn được lưu giữ. Tôi có thể nói điều này khi đi qua những dãy phố cổ, bên cạnh những hàng hóa mới tràn ngập, tôi nhận ra những bức trướng, những hoành phi, câu  đối… như từ hơn hai mươi năm trước, cũng được bày bán ở đây. Từ góc độ của một nhà xã hội học, nghiên cứu sự thay đổi này sẽ rất thú vị.

-  Chị đã  nghiên cứu về văn hóa, giáo dục, và tham gia nhiều dự án giúp đỡ  cộng đồng ở Việt Nam. Chín năm nay,  chị sống và làm việc ở TP Hồ Chí Minh. Điều gì đã khiến chị gắn  bó với Việt Nam như vậy?

- Vào năm 1975, tôi tham gia phong trào ủng hộ Việt  Nam trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ và được đoàn  TNCS Việt Nam mời sang Việt Nam lần đầu tiên. Mối “quan hệ” của tôi với Việt Nam bắt đầu từ đó. Tôi là một người  nghiên cứu xã  hội học, và chuyên hoạt động vì những lợi ích cộng đồng. Khi đến Việt Nam, có rất nhiều điều để tôi khám phá, và cũng có rất nhiều việc tôi thấy mình phải làm.

Những năm 1982, tôi ở Trung Tự, hằng ngày đạp xe đến khu Mai Dịch để phỏng vấn sinh viên, học sinh trong một chương trình nghiên cứu giáo dục. Sau đó, tôi tham gia một dự án hỗ trợ đời sống công nhân lâm nghiệp. Khi đó, họ sống rất khổ cực. Bên cạnh việc hỗ trợ về đời sống vật chất như nhà ở, phương tiện giao thông, tôi quan tâm đến tinh thần của họ. Những năm 87, khi có chính sách về việc nữ công nhân lâm nghiệp được quyền làm mẹ (vì hoàn cảnh đặc biệt, họ được phép sinh con mà không có chồng) mà bà Lê Thi là người khởi xướng, tôi đã làm nhiều việc để ủng hộ chính sách này. Chúng tôi giúp họ làm nhà ở, làm vườn tược để trồng trọt, chăn nuôi… ổn định cuộc sống.

Tôi tự hào vì mình là một trong những người đến Việt Nam sớm nhất sau chiến tranh và có nhiều thời gian gắn bó tìm hiểu.

Bây giờ tôi vẫn tiếp tục có nhiều dự án với Việt Nam, như  dự án phục hồi nghề dệt thổ cẩm, dự án về môi trường… Tôi còn nhiều việc để làm ở đây.

- Vậy những hình ảnh về Việt Nam mà chị muốn giữ lại trong máy ảnh của mình hôm nay là gì?

- Tôi quan tâm đến những giá trị truyền thống, những hình ảnh giản dị của đời thường. Ảnh về Việt Nam thì tôi có nhiều lắm. Và sau triển lãm này,  tôi đang có ý tưởng về những triển lãm khác nữa.

- Vâng, xin cám ơn chị.

Triển lãm “80.00” diễn ra từ ngày 29-9 đến 10-10 tại Gallery 39, 39A Lý Quốc Sư, Hà  Nội gồm 30 bức ảnh  do Eva Lindskog chụp Hà Nội những năm 80 của thế kỷ trước và 15 bức ảnh của hoạ sĩ Lê Thiết Cương chụp vào những năm đầu thế kỷ 20.

Có thể bạn quan tâm