Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định năm 2012 và giai đoạn năm 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Năm 2012 được coi là năm bản lề và có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015. Bên cạnh việc tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ còn đặt mục tiêu triển khai đề án tái cấu trúc nền kinh tế với ba trụ cột là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tái cấu trúc hệ thống tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại. Như vậy, trọng trách nặng nề đặt ra cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đối với phát triển kinh tế bền vững, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. Tổng kết việc điều hành chính sách tiền tệ trong vòng một năm qua, có thể thấy những bước tiến đáng kể, đúc rút qua sáu điểm nổi bật sau đây.
Thứ nhất, bám sát các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) luôn kiên định theo đuổi mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý nhưng không xao nhãng mục tiêu an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Các giải pháp điều hành đều có mục tiêu, lộ trình và bước đi thích hợp, giải quyết những vấn đề ngắn hạn nhưng không ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu lâu dài.
Thứ hai, thông qua việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, NHNN đã chủ động, định hướng và dẫn dắt thị trường đi theo các mục tiêu và lộ trình đề ra. Cụ thể:
Ðối với chính sách lãi suất, từ tháng 10-2011, các mức lãi suất điều hành đã được điều chỉnh tăng ở mức hợp lý (lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng lên 16%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu lên 13%/năm), phản ánh đúng vai trò của NHNN là người cho vay cuối cùng. Lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với các mức lãi suất điều hành, lãi suất thị trường liên ngân hàng và tình hình vốn khả dụng của hệ thống. Trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam tiếp tục được duy trì ở mức 14%/năm nhưng đi đôi với việc tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Bước sang năm 2012, ngay từ đầu năm NHNN đã định hướng giảm lãi suất trung bình 1%/năm mỗi quý. Tuy nhiên, với diễn biến giảm nhanh của lạm phát và thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, NHNN đã điều chỉnh nhanh hơn dự kiến. Từ đầu năm đến nay, đã điều chỉnh giảm 5%/năm các mức lãi suất điều hành và giảm 4%-5%/năm trần lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam. Từ tháng 5-2012, NHNN quy định trần lãi suất cho vay đối với bốn lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN nhỏ và vừa. Mức trần lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm phù hợp với trần lãi suất huy động, hiện ở mức 13%/năm. Ngoài ra, để chia sẻ và tháo gỡ khó khăn cho DN và hộ dân, NHNN đã đề nghị các tổ chức tín dụng (TCTD) điều chỉnh giảm lãi suất đối với các khoản cho vay cũ về mức tối đa là 15%/năm. Trên thực tế, lời hiệu triệu này đã được các TCTD đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, chỉ trong vòng ba tuần tỷ trọng dư nợ cho vay có lãi suất hơn 15%/năm còn 29,1%, giảm khoảng 60% so với tỷ trọng trước ngày 15-7-2012. Ðến nay, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm về xấp xỉ mức lãi suất năm 2007, trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Lãi suất huy động giảm từ 3% đến 6%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 5% đến 8%/năm so với đầu năm 2012, trong đó lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 10%-13%/năm, lĩnh vực kinh doanh khác và tiêu dùng phổ biến 12%-15%/năm, các lĩnh vực không khuyến khích có lãi suất cao hơn nhưng cũng đã giảm so với trước đây. Lãi suất cho vay giảm đã có tác động tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn, giảm áp lực chi phí vay vốn của các DN và hộ dân, qua đó hỗ trợ tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Ðối với chính sách tín dụng, từ tháng 9-2011, trên cơ sở theo dõi sát diễn biến tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống, NHNN đã có những điều chỉnh linh hoạt, cho phép một số TCTD được tăng trưởng vượt mức 20% trong năm 2011, cho phép loại bỏ một số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích. Bước sang năm 2012, để bảo đảm tăng trưởng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả, NHNN đã phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo bốn nhóm TCTD, tiếp tục loại bỏ một số nhu cầu vay vốn ra khỏi phạm vi kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích. Trong bối cảnh các DN gặp khó khăn, dòng tiền ách tắc do chưa tiêu thụ được hàng hóa, hàng tồn kho tăng cao, NHNN đã chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vốn vay, xem xét cho vay mới đối với các nhu cầu vốn vay có hiệu quả và bảo đảm khả năng trả nợ. Ðây là các giải pháp hết sức thiết thực của ngành ngân hàng nhằm chia sẻ khó khăn đối với cộng đồng DN và nền kinh tế. Nhờ thực hiện các biện pháp tín dụng, kết hợp với việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng đã được kiểm soát ở mức thấp, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá. Mặc dù tín dụng tăng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng đã chuyển dịch tích cực theo đúng định hướng của Chính phủ. Tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực này đều cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung cho nền kinh tế. Năm 2011, tín dụng cho nền kinh tế tăng 14,4%, trong đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 27,25%, xuất khẩu tăng 58%. Trong sáu tháng đầu năm 2012, tín dụng cho nền kinh tế tăng 1,5%, trong đó tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 8,5%, xuất khẩu tăng 6,59%.
Ðối với chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối, NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt trên cơ sở bám sát cung - cầu ngoại tệ, kết hợp với việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, quy định trần lãi suất huy động đối với USD, thu hẹp đối tượng cho vay ngoại tệ, thực hiện nhiều biện pháp về quản lý ngoại hối kết hợp với việc ban hành chế tài và xử lý nghiêm hành vi vi phạm về hoạt động ngoại hối... Nhờ vậy, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống được cải thiện, thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực. Nếu như trước đây, tỷ giá biến động thất thường, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do ở mức cao (có thời điểm chênh lệch đến 8-10%), thì trong bảy tháng đầu năm 2012, tỷ giá ổn định, thị trường ngoại tệ tự do hầu như không hoạt động. Các TCTD nhìn chung đã chấp hành các quy định về mua bán ngoại tệ, tâm lý thị trường ổn định hơn, các nhu cầu ngoại tệ cấp thiết đã được bảo đảm. Bên cạnh việc điều hành chính sách tỷ giá và ngoại hối, NHNN cũng đã triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm ổn định giá vàng và thị trường vàng trong nước; cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định số 24/2012/NÐ-CP đã tạo bước đổi mới cơ bản về hoạt động quản lý và kinh doanh vàng. Mặc dù mới có hiệu lực song những tín hiệu thị trường cho thấy yếu tố đầu cơ hoặc các biến động bất thường gây ảnh hưởng đến thị trường vàng, ngoại hối trong những năm trước đây đã giảm đáng kể, giá vàng bảy tháng đầu năm khá ổn định và diễn biến bám sát xu hướng giá vàng thế giới. Tỷ giá ổn định, thị trường vàng và ngoại hối không còn biến động lớn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, đó là những điều kiện để vị thế đồng Việt Nam được nâng cao; trong vòng một năm qua, xu hướng bán ngoại tệ của DN và dân cư cho hệ thống ngân hàng gia tăng, tạo điều kiện cho NHNN mua được một lượng lớn dự trữ ngoại hối Nhà nước, góp phần tăng cường uy tín và tiềm lực tài chính của quốc gia.
Thứ ba, NHNN đã điều hành linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các kênh đưa tiền ra và thu tiền về để điều hành cung ứng tiền phù hợp với mục tiêu đề ra. Cụ thể, cung ứng tiền với khối lượng lớn để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống một cách kịp thời trong những tháng cuối năm 2011 và dịp Tết Nguyên đán, và thu tiền về sau Tết khi thanh khoản của hệ thống được cải thiện. Nhờ vậy, hệ thống ngân hàng không những tránh được nguy cơ đổ vỡ hàng loạt vào cuối năm 2011 mà hiện nay thanh khoản đã dồi dào, sẵn sàng đủ vốn để cung ứng cho DN và hộ dân, giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng.
Thứ tư, điều hành chính sách tiền tệ luôn song hành với việc triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn và ổn định hệ thống, hỗ trợ quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo đề án Chính phủ đã phê duyệt.
Từ tháng 9-2011 đến nay, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đã được chú trọng theo hướng vừa tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh của các TCTD theo các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, thực hiện xử phạt vi phạm hành chính, phối hợp các cơ quan chức năng đề xuất biện pháp xử lý các vụ việc nổi cộm, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số cơ chế chính sách. NHNN chi nhánh, tỉnh, thành phố - cánh tay dài của thống đốc đã tích cực phối hợp các sở, ban, ngành để quản lý thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng; tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về tiền tệ, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, vàng, giám sát chặt chẽ việc chấp hành các quy định pháp luật trong hoạt động của các TCTD trên địa bàn.
Sau khi Ðề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 254/QÐ-TTg ngày 1-3-2012, NHNN đã ban hành kế hoạch triển khai và bước đầu đã đạt được một số kết quả quan trọng. NHNN đã đánh giá, xác định các ngân hàng yếu kém và triển khai các biện pháp xử lý như giám sát hoạt động, hỗ trợ thanh khoản, bảo đảm khả năng chi trả của từng ngân hàng; kiểm toán tài chính, đánh giá chất lượng tài sản, nợ xấu và vốn chủ sở hữu thực tế để làm cơ sở áp dụng các biện pháp cơ cấu lại thích hợp; khuyến khích các ngân hàng tham gia sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên nguyên tắc tự nguyện. Quá trình triển khai các giải pháp tái cơ cấu của hệ thống ngân hàng tuy quyết liệt nhưng vẫn bảo đảm được tính ổn định của thị trường, tình hình chi trả tiền gửi dân cư tại các ngân hàng yếu kém diễn ra bình thường, không xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt với quy mô lớn, huy động vốn của các ngân hàng này không giảm, tình hình an ninh chính trị và an toàn xã hội được giữ vững.
Thứ năm, NHNN đã chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành tích cực triển khai các giải pháp cùng tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, phối hợp đề xuất với Chính phủ các giải pháp điều hành trung, dài hạn nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế bền vững, đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu nền kinh tế, tăng cường trao đổi thông tin... Ngoài ra, NHNN cũng đã phối hợp chặt chẽ với tỉnh ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh tổ chức các hội nghị kết nối giữa ngân hàng và DN để lắng nghe và cùng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa các TCTD và khách hàng.
Thứ sáu, ngoài những điểm nổi bật nêu trên, từ tháng 9-2011 đến nay, công tác thông tin, truyền thông ra công chúng của NHNN đã có tính chuyên nghiệp và chủ động hơn, gia tăng hàm lượng thông tin công bố, qua đó đã được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao. Việc tích cực phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan và các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền về hoạt động ngân hàng đã tạo niềm tin đối với công chúng, DN và cộng đồng quốc tế vào các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về điều hành kinh tế vĩ mô, về chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu hệ thống ngân hàng nói riêng.
Từ nay tới cuối năm, thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng là vấn đề tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng thấp, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn do sức cầu yếu, khả năng hấp thụ vốn của các DN hạn chế, hàng tồn kho cao đã ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế vĩ mô. Ðây là trách nhiệm nặng nề, đòi hỏi không chỉ riêng nỗ lực của ngành ngân hàng mà cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các bộ, ngành khác, nhất là trong phát triển thị trường tiêu thụ nội địa, tăng cường năng lực quản trị, tài chính DN, để từ đó khơi thông dòng vốn tín dụng ngân hàng ra nền kinh tế, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn tín dụng theo mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Ðể phát huy những kết quả đạt được trong một năm qua và khắc phục được những vướng mắc, khó khăn hiện nay, trong những tháng cuối năm 2012, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; sử dụng đồng bộ, linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý, tiếp tục điều hành để giảm mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát, tỷ giá và các cân đối vĩ mô; tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn, lãi suất cho DN và người dân theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10-5-2012 để giúp khôi phục lại hoạt động sản xuất, kinh doanh và sớm lấy lại đà tăng trưởng kinh tế.