Nhìn lại chặng đường 15 năm hợp tác với IMF/WB/ADB

ND - Cách đây 15 năm, tháng 10-1993, Việt Nam chính thức nối lại quan hệ tín dụng với ba tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Trước thềm hội nghị hằng năm IMF/WB diễn ra vào trung tuần tháng 10-2008 tại Washington DC, chúng ta nhìn lại chặng đường hợp tác và phát triển với IMF/WB/ADB nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trợ giúp của các tổ chức này.

Có thể nói, với các nước đang phát triển tại khu vực châu Á như Việt Nam, đây là ba tổ chức quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, CHXHCN Việt Nam chính thức tiếp quản tư cách hội viên tại IMF/WB/ADB và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam vinh dự được Ðảng và Nhà nước giao sứ mệnh thay mặt nước CHXHCN Việt Nam là đại diện tại các tổ chức này.

Từ năm 1976 đến 1981, Ngân hàng Nhà nước đã tích cực chủ động làm việc với IMF để vay khoảng 200 triệu Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) theo các điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn giúp Việt Nam khắc phục các khó khăn trong cán cân thanh toán. Năm 1978, WB đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu USD để thực hiện dự án Thủy lợi Dầu Tiếng giai đoạn 1978-1983.

Năm 1985, quan hệ giữa Việt Nam với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế bước vào một thời kỳ vô cùng khó khăn khi IMF và tiếp sau đó WB/ADB đình chỉ quyền vay vốn của Việt Nam do các khoản nợ quá hạn. Trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã phối hợp các bộ, ngành liên quan kiên trì các nỗ lực ngoại giao để duy trì quan hệ hội viên tại IMF/WB/ADB, tạo tiền đề cho việc nối lại quan hệ tín dụng sau này. Trợ giúp của IMF được thực hiện thông qua các đoàn công tác về kinh tế vĩ mô và hỗ trợ kỹ thuật. Tháng 8-1989, với những diễn biến thuận lợi về mặt chính trị, cùng với sự kiên trì đề nghị và đàm phán thuyết phục, WB đã có những chuyển biến tích cực và cử Ðoàn kinh tế vào Việt Nam.

Ðến tháng 10-1993, với nỗ lực to lớn và quyết tâm thực hiện cải cách của Chính phủ Việt Nam cùng với sự vận động dàn xếp tài chính thiện chí của các nhà tài trợ thuộc Câu lạc bộ Paris, quan hệ tín dụng giữa IMF và Việt Nam chính thức được nối lại. Ðây là kết quả của quá trình đàm phán kiên trì của Chính phủ ta với các chính phủ và một số ngân hàng nước ngoài để huy động nguồn tài trợ cho việc trả hết các khoản nợ quá hạn.

Ngay sau đó, WB và ADB cũng như các nhà tài trợ quốc tế khác đã bình thường hóa quan hệ tín dụng với Việt Nam, thể hiện qua việc WB hỗ trợ một khoản vay trị giá 35 triệu USD để thanh toán nợ CLB Luân Ðôn, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có thể huy động các nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế.

Từ đó đến nay, sự trợ giúp cả về tài chính và kỹ thuật của các tổ chức này cho Việt Nam ngày càng nhiều hơn và có ý nghĩa, góp phần giúp Việt Nam đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Trong tổng số 42,438 tỷ USD cam kết ODA của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2007, NHNN Việt Nam đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành hữu quan đàm phán và ký kết thành công với ba tổ chức này xấp xỉ 11 tỷ USD dưới hình thức tài trợ ưu đãi cho khoảng 130 chương trình và dự án, và hơn 480 triệu USD dưới hình thức viện trợ không hoàn lại. Nguồn tài trợ từ các tổ chức này chiếm một phần không nhỏ trong tổng đầu tư toàn xã hội.

Ngay từ những giai đoạn đầu nối lại quan hệ, Chính phủ chỉ đạo NHNN và các bộ, ngành hữu quan phối hợp với các tổ chức quốc tế để xây dựng các chương trình cải cách cơ cấu kinh tế vĩ mô và đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo của đất nước.

Thông qua các chương trình tài trợ và các khoản trợ giúp kỹ thuật và dựa trên bề dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ quốc tế, IMF, WB và ADB đã đưa ra những khuyến nghị, tư vấn sát hợp. Ðặc biệt, các khoản hỗ trợ Việt Nam như khoản vay Dự phòng (SBA), Ðiều chỉnh Hệ thống (STF), Ðiều chỉnh Cơ cấu mở rộng (ESAF), và Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo (PRGF) của IMF, và các khoản vay Tín dụng Ðiều chỉnh Cơ cấu (SAC), Tín dụng Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) của WB và Khoản vay chương trình nông nghiệp của ADB... đều nhấn mạnh mục tiêu hỗ trợ Việt Nam thực hiện các chương trình cải cách của Chính phủ. Về mặt tài chính, các khoản vay này đã góp phần hỗ trợ cán cân thanh toán của Việt Nam, cũng như góp phần trang trải một phần chi phí phát sinh trong quá trình cải cách và chuyển đổi nền kinh tế.

Trong quá trình thu hút các nguồn lực cả trong nước và ngoài nước để phát triển kinh tế đất nước, việc xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội đóng một vai trò rất quan trọng. Xuất phát từ thực tế các hoạt động đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội đòi hỏi nguồn vốn rất lớn và trong một khoảng thời gian dài, việc phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam dựa một phần đáng kể vào sự trợ giúp cả về tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức và các nhà tài trợ quốc tế.

Ðóng góp rõ rệt nhất cho việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của Việt Nam 15 năm qua phải kể đến sự hỗ trợ từ WB và ADB. Thực hiện các khoản vay có giá trị lớn, dài hạn với lãi suất ưu đãi và thời gian ân hạn dài là nguồn vốn quý báu giúp Việt Nam đầu tư vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm của đất nước. Cả hai tổ chức này đều tập trung vào các lĩnh vực được đặt ưu tiên cao như: nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy lợi, năng lượng, cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn, giao thông, y tế và giáo dục. Các dự án của WB và ADB đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển các dịch vụ xã hội, tăng cường thể chế và phát triển nguồn nhân lực, và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Những thành quả đạt được trong lĩnh vực phát triển và cải cách nền kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng là cơ sở giúp Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân. Những đóng góp của IMF, WB và ADB trong những thành tựu về xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam là không thể phủ nhận. Tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo luôn là mục tiêu cuối cùng mà mọi chương trình và khoản vay của IMF, WB và ADB hướng tới.

Từ sau năm 2000, mục tiêu này đã được cụ thể hóa trong nhiều chương trình và dự án của ba tổ chức, nhất là chương trình PRGF của IMF, chương trình PRSC của WB, và các khoản vay hỗ trợ khu vực nông thôn, các vùng nghèo khó, dự án tạo công ăn việc làm và giảm thiểu sự mất cân bằng về mặt xã hội và vùng địa lý, các dự án y tế, giáo dục... của WB và ADB.

Thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã có những bước tiến đáng khâm phục. Tỷ lệ hộ nghèo trong vòng 15 năm qua giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,7% năm 2007.

Gần đây nhất, việc tập trung vào mục tiêu xóa đói, giảm nghèo của các tổ chức này được thể hiện rõ trong việc xây dựng Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo (CPRGS), được xây dựng trên cơ sở phối hợp của nhiều cơ quan hữu quan trong Chính phủ, các tổ chức xã hội và các nhà tài trợ, trong đó có IMF, WB và ADB, là sự cụ thể hóa các mục tiêu, các cơ chế, chính sách và giải pháp chung của Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-2010) và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm (2006-2010) nhằm đạt được tăng trưởng bền vững đi đôi với xóa đói, giảm nghèo. CPRGS cũng là cơ sở để kêu gọi trợ giúp và đầu tư từ các nhà tài trợ cho quá trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam.

Ngoài những đóng góp kể trên, 15 năm qua, NHNN cùng với các bộ, ngành hữu quan của Việt Nam đã phối hợp với IMF, WB và ADB xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo bằng nguồn vốn của các tổ chức này cho một số lượng khá lớn các cán bộ thuộc các cơ quan Chính phủ, góp phần nâng cao năng lực cán bộ của Việt Nam. Với số lượng đào tạo hằng năm tại các tổ chức quốc tế, các trường đại học lớn trên thế giới (bằng học bổng do các tổ chức quốc tế này cấp), số lượng các hội thảo, các khóa đào tạo cho các cán bộ Việt Nam trong các lĩnh vực góp phần cải thiện về kỹ năng và năng lực của đội ngũ cán bộ Nhà nước.

Sau 15 năm nối lại quan hệ tín dụng với ba tổ chức IMF, WB và ADB, những lợi ích phát triển mà Việt Nam thu được là tương đối lớn và được công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Ngoài nguồn vốn hỗ trợ ưu đãi cho phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo, IMF, WB và ADB còn đem đến cho Việt Nam những trợ giúp kỹ thuật quý báu, giúp Việt Nam tiến tới áp dụng những chuẩn mực được quốc tế công nhận.

Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn vốn ODA với đất nước, thời gian qua, nhất là từ sau năm 2000, Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đã có nhiều hành động nhằm tăng cường hiệu quả điều phối tài trợ cũng như đơn giản hóa thủ tục đối với các dự án, chương trình ODA. Chính sách thu hút và quản lý ODA trong thời gian tới cần tập trung cải thiện mạnh mẽ tình hình giải ngân các chương trình và dự án đã ký kết, sớm đưa các công trình vào khai thác và sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả tài trợ.

Ðể triển khai tốt hơn nữa nguồn vốn vay này, thời gian tới, Chính phủ cần quan tâm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, nhất là trong các lĩnh vực như quản lý và thực hiện dự án, cơ chế tài chính trong nước, và các hướng dẫn thực hiện của các bộ, ngành hữu quan. Ðẩy mạnh hơn nữa quá trình hài hòa hóa thủ tục giữa Chính phủ và các nhà tài trợ; tăng cường tính chủ động của phía Việt Nam trong quá trình chuẩn bị, thực hiện dự án. Trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ hiện nay, các địa phương cần nâng cao hơn nữa tính chủ động; tăng cường đào tạo cán bộ và năng lực thực hiện dự án. Lựa chọn các cán bộ có trình độ tham gia ngay từ khâu chuẩn bị đến khi thực hiện dự án; đề xuất những chính sách, cơ chế ưu đãi để thu hút cán bộ có năng lực tham gia quản lý dự án và tăng cường sự phối hợp giữa trung ương và địa phương. Cần tiếp tục chủ động triển khai công tác nghiên cứu, sử dụng các khoản vay mới có điều kiện ưu đãi thấp hơn từ nguồn Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới và nguồn Vốn thông thường (OCR) của ADB.

Nhìn lại chặng đường lịch sử vừa qua, việc thu hút, sử dụng nguồn ODA của các tổ chức quốc tế đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia. Tính hiệu quả trong công tác huy động, sử dụng vốn ODA của Việt Nam luôn được các tổ chức quốc tế đánh giá cao và Việt Nam thường xuyên được nhắc tới như một bài học thành công.

Chặng đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, nỗ lực của toàn dân và sự hợp tác tích cực của các tổ chức quốc tế như IMF, WB và ADB, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

NGUYỄN VĂN GIÀU
Ủy viên T.Ư Ðảng,     
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Có thể bạn quan tâm