Với phương châm bám sát những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, trong năm năm qua, các nhà khoa học và công nghệ sinh học tham gia Chương trình KC.04 đã tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Các nhà khoa học có 139 bài báo, báo cáo về kết quả nghiên cứu tại các hội nghị ở nước ngoài, hơn 300 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước, phần nào chứng tỏ đội ngũ các nhà khoa học làm về công nghệ sinh học ở Việt Nam đã ngang tầm khu vực, một số công nghệ như công nghệ tế bào, công nghệ gien bước đầu vươn tới tầm cỡ thế giới.
Các nhà khoa học và công nghệ đã điều chế thành công bước đầu ba loại kháng sinh mới là Cefotaxim Natri, Cefradin natri và Cefadroxil ở quy mô phòng thí nghiệm. Kết quả nói trên tạo cơ sở để các cấp có thẩm quyền làm dự án xây dựng một nhà máy sản xuất kháng sinh, giành thế chủ động trong việc sản xuất thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Nhờ có kết quả nghiên cứu khoa học, lần đầu tiên ở nước ta đã triển khai kỹ thuật sinh học phân tử vào việc đánh giá đa dạng tập đoàn giống phục vụ lựa chọn bố mẹ cặp lai để tạo dòng lạc kháng bệnh rỉ sắt, đậu tương chịu hạn, ngô kháng bệnh khô vằn. Giống DR3 đã được Hội đồng giống, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt công nhận là giống tạm thời ngày 16-1-2004, đây là giống chịu hạn tốt, góp phần giải quyết khâu giống cho những vùng thường xuyên bị hạn hán nặng trong mùa khô ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Ðề tài mang mã số KC.04-05, có nhiệm vụ: "Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ADN trong nhận dạng cá thể người", lần đầu tiên thực hiện ở nước ta. Các bộ thử (KIT) được tạo ra từ công nghệ cao, có độ bền và giá thành rẻ. Bộ KIT tự sản xuất trong nước so với bộ KIT nhập khẩu có chất lượng tương đương. Từ thành công của đề tài, Bộ Công an đã cho phép triển khai các phòng giám định sinh học mà nòng cốt là công nghệ gien; xây dựng một tàng thư ADN về tội phạm trong giai đoạn tới.
Thuốc thảo mộc trừ ốc bươu vàng có tên thương mại TICTACK 13.2 BR và BUORBO 8.3 BR, là sản phẩm nghiên cứu của dự án mang mã số KC.04-DA.10. Thuốc có hiệu lực trừ ốc bươu vàng đạt từ 85 đến 90%, không thua kém gì thuốc hóa học, giá thành hợp lý khoảng từ 200 nghìn đến 250 nghìn đồng/ha (thấp hơn so với giá thuốc hóa học) giúp cho người nông dân diệt trừ nạn đại dịch ốc bươu vàng trên cả nước, bảo vệ môi trường.
Qua năm năm thực hiện (2001 - 2005), hầu hết các đề tài, dự án đều được tăng cường trang thiết bị hiện đại, cần thiết cho việc nghiên cứu. Các trang thiết bị được sử dụng một cách có hiệu quả, không lãng phí và thường xuyên có sự trao đổi thông tin cũng như hỗ trợ về máy móc thiết bị giữa các đề tài, dự án cho nên máy móc được sử dụng tối đa.
Thông qua con đường hợp tác quốc tế của chương trình, 128 cán bộ đã được cử đi học tập, nâng cao nghiệp vụ ở nước ngoài. Với kinh phí mà mỗi đề tài nhận được để thực hiện đã tạo điều kiện cho các sinh viên, học viên cao học, các nghiên cứu sinh được tiếp cận với công nghệ sinh học một cách thực tế hơn, chứ không chỉ nghiên cứu qua sách vở.
Việc này được thể hiện bởi số lượng tiến sĩ, thạc sĩ được đào tạo thông qua các đề tài là: tiến sĩ 46, thạc sĩ 131. Ðây cũng chính là đội ngũ kế cận chính để tiếp tục đưa nền công nghệ sinh học nước ta ngang tầm với thế giới trong tương lai. Hơn một nghìn nhà khoa học và công nghệ, cán bộ quản lý, thuộc 233 viện nghiên cứu, trường đại học và 88 doanh nghiệp đã tham gia Chương trình KC.04.
Ngoài những thành công cơ bản nói trên, quá trình thực hiện chương trình KC.04 có một số hạn chế nhất định. Trong khi triển khai chương trình, đề tài, một số chủ nhiệm đề tài là lãnh đạo của các cơ quan chủ trì đề tài thường bận nhiều việc, do đó chưa ý thức hết được nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Quy định tạm thời về việc quản lý Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005, nộp dự toán kinh phí cũng như các loại báo cáo chậm, làm ảnh hưởng tiến độ của cả chương trình.
Vẫn còn có một số đề tài khi đấu thầu đã không lường hết khả năng phức tạp của vấn đề nghiên cứu cho nên khi thực hiện đã không đưa ra được kết quả như mong muốn. Thí dụ như: Ðề tài KC.04-01: "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong tạo giống thủy sản có giá trị kinh tế cao". Trong số các sản phẩm của đề tài thì phải có giống tôm sú chọn lọc về sinh trưởng (một nghìn con cỡ 30-50 g/con), đề tài cũng chọn lọc được 1.200 con cỡ từ 30-50 g/con nhưng sau chín tháng nuôi nhân tạo tại Trung tâm Nuôi trồng thủy sản - Ðại học Thủy sản, đàn tôm chọn lọc đã bị chết. Ðây là vấn đề khó khăn và phức tạp, vì hiện nay trên thế giới việc chọn tạo, nhân giống khép kín vòng đời tôm sú cũng chưa có nước nào làm được, nên việc tạo ra sản phẩm cuối cùng chưa có kết quả, mặc dù đội ngũ thực hiện đề tài đã thực hiện hết sức mình.
Từ những kinh nghiệm thu thập được trong quá trình triển khai Chương trình KC.04, từ đòi hỏi của cuộc sống, nhiều nhà khoa học và công nghệ sinh học kiến nghị trong gia đoạn tới cần hình thành các đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ gien để tạo ra các nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo các giống lúa, ngô, đậu đỗ có năng suất, chất lượng chống chịu được sâu bệnh và các điều kiện bất thuận của môi trường; nghiên cứu và sản xuất được một số loại kháng sinh thế hệ mới để phòng, chống một số bệnh ở gia súc, gia cầm như: bệnh lở mồm, long móng ở trâu, bò, lợn; bệnh cúm gia cầm H5N1, thủy cầm...
Trong lĩnh vực thủy sản, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ ADN tái tổ hợp để tạo được các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao phục vụ sản xuất thức ăn cho các giống thủy, hải sản. Trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và sản xuất một số loại vắc-xin thế hệ mới để phòng, chống các dịch bệnh nguy hiểm như SARS, H5N1; nghiên cứu và sản xuất các bộ KIT chẩn đoán sớm, chính xác một số dịch bệnh hiểm nghèo như SARS, H5N1, tim mạch, ung thư, HIV.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ ADN tái tổ hợp để tạo các chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh học cao xử lý chất phế thải từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và nước thải sinh hoạt. Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ gien trong công tác chẩn đoán hình sự, phòng, chống tội phạm, tìm hài cốt liệt sĩ; giải mã một số gien đặc trưng trong bộ gien người Việt Nam.