Nhân dân ta rất Anh hùng

...Tôi về đến nhà thì bị ốm nặng nên không dự được Hội nghị Trung ương ở Tân Trào. Ðến khi khỏi, Quốc dân đại hội khai mạc rồi tôi mới đến được. Bác lúc ấy cũng vừa mệt nặng. Từ lúc có tin phát-xít Nhật đổ lăn kềnh, ai nấy tỉnh hẳn lên, bệnh nào cũng lui hết. Bác bảo họp gọn, ra ngay hiệu triệu tổng khởi nghĩa rồi cắt đặt mỗi người một công tác. Tôi được phái vào Nam với anh Cao Hồng Lĩnh.

Chúng tôi từ Thái Nguyên đi mảng rồi đi thuyền về xuôi. Năm ấy nước sông to lắm, thuyền chúng tôi vừa đi vừa cứu được một số đồng bào bị nước cuốn. Về đến gần Bắc Ninh, thuyền cứ ngang cánh đồng ngập nước mà đi. Tới Yên Viên, nhìn lên đường cái: một chiếc xe hơi cắm một lá cờ đỏ sao vàng rất to, bắc loa phóng thanh hát bài Diệt phát-xít, hát bài Bao chiến sĩ anh hùng và giữa hai bài hát cách mạng: "A lô, a lô, lực lượng khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo từ bốn giờ chiều hôm nay đã làm chủ Hà Nội. Chính quyền thủ đô đã hoàn toàn về tay ta".

Chúng tôi lên ngay chiếc xe tuyên truyền ấy vào Hà Nội. Cờ và biểu ngữ đỏ hoa cả mắt. Xe hơi đưa chúng tôi liên lạc chỗ này, chỗ khác, rồi một lúc sau đến Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, gặp anh Nguyễn Khang. Từ sáng, anh em ở đây làm việc chưa kịp ăn uống gì cả. Buổi sáng, mít-tinh tuần hành mười lăm vạn người tham gia, chiếm Bắc bộ phủ, chiếm Thị chính, rồi từ một giờ đến bốn giờ chiều, cả Hà Nội vây lấy trại bảo an binh, đấu tranh cho đến khi xe tăng và lính Nhật chặn các đầu phố phải rút. Anh Khang bàn với chúng tôi về những công việc đang cần giải quyết, cho biết quyết định Ủy ban nhân dân cách mạng Hà Nội và Ủy ban nhân dân cách mạng Bắc Bộ sẽ ra mắt ngay ngày mai.

Nhân có chiếc xe hơi của chị Thập và một anh cán bộ Hòa hảo cứu quốc thuê ra Bắc công tác, lại trở về Nam, tôi và anh Cao Hồng Lĩnh cũng lên xe đi thẳng. Lúc ấy mới bảy giờ tối. Phải nói trước rằng chúng tôi đi đến đâu đem tin cụ thể về thủ đô Hà Nội, đã khởi nghĩa thắng lợi, cũng là đem đến cho anh em một nguồn động viên rất lớn.

Xe hơi chúng tôi ra khỏi Hà Nội là mở hết tốc lực, phóng như bay trên đường số 1, vun vút qua Bằng, Lịm, Ðồng Văn, Phủ Lý, đâu cũng đã nổi cờ. Nhiều làng bên đường đuốc sáng rực. Ðặng Xá, tự vệ chiến đấu đi lại rầm rập. Mới gần chín giờ đã tới Nam Ðịnh. Ðầu tỉnh xe bị ách lại. Một chị nữ tự vệ đeo kiếm ra hỏi giấy. Tôi trình giấy tờ. Một anh ở trụ sở gần đấy ra đưa chúng tôi đến tòa sứ cũ. Anh Văn Tiến Dũng ra đón, ngay câu đầu tiên đã cho biết: "Ở đây xong rồi".

Nghỉ một lát, chúng tôi lại tiếp tục đi ngay. Ra khỏi tỉnh đến mười cây số, xe mới mở hết số được; quần chúng từng toán vác cờ đi hô khẩu hiệu vang trên đường. Vách núi chùa Non Nước đã kẻ một hàng chữ trắng "Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm" to tướng, Ghềnh, Bỉm Sơn, Lèn, tự vệ đều hỏi giấy.

- Ta cả thôi mà.

- Mời các đồng chí đi.

Ðến Thanh Hóa, đêm đã khuya, thị xã đã ngủ hết, trên phố lớn, nhiều đám anh em thanh niên vẫn còn hì hục chăng biểu ngữ qua đường. Anh Lê Tất Ðắc tiếp chúng tôi cũng ở Tòa xứ cũ. Rửa mặt mũi xong xuôi, nói chuyện tình hình một lúc thì trời đã tờ mờ sáng. Chúng tôi rời Thanh, đến Vinh, 9 giờ. Anh Nguyễn Tạo ra gặp:

- Bọn Nhật ở đây, chúng tôi làm gọn lắm. Anh em cử ông Lê Viết Lượng làm Chủ tịch rồi.

Hà Tĩnh, Quảng Bình. Qua Ðèo Ngang. Ðã lâu lắm chúng tôi mới lại trông thấy biển. Ðối với anh em chúng tôi đã bao nhiêu năm hoạt động bí mật, khi lên chiến khu đã vui sướng thấy rừng núi là của mình, giờ đây rong ruổi ngang nhiên trên đường dài xuyên đất nước, trước cảnh trời biển bao la, lòng càng rạo rực, say sưa với thắng lợi. Quảng Trị rồi Huế. Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Lành (tức là anh Tố Hữu) cho biết:

- Nhà vua nó xin hàng rồi. Chỉ chờ chính phủ trung ương vào nhận ấn với kiếm cho nó thôi.

Ðà Nẵng, anh Lê Văn Hiến, anh Lê Dung được Huế báo dây nói đã chờ sẵn chúng tôi. Gặp lại anh Huỳnh Ngọc Huệ, người thanh niên công nhân rắn mạnh, rất vững và rất hăng. Anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng. Một kỳ thú trong chuyến đi của chúng tôi là đến mỗi chặng đường đều được gặp biết bao nhiêu anh em đồng chí. Anh Cao Hồng Lĩnh đến Ðà Nẵng thì được tin quê nhà là Hội An cũng đã lập xong chính quyền nhân dân. Anh em địa phương mời anh về dự mít-tinh với bà con quê cũ. Song nhớ lời Bác dặn lúc ra đi: "Tranh thủ gấp rút vào Nam, không được phép kéo dài một buổi", ngay đêm đó, anh từ biệt các đồng chí tỉnh nhà, cùng chúng tôi lên đường. Trong hành lý đơn giản của anh, có một vật kỷ niệm rất quý: bộ quần áo xanh của anh Lê Hồng Phong mặc ngày còn ở Trung Quốc mà một đồng chí công nhân ở Nam Ninh đã giao lại cho anh. Qua Quảng Nam lên đèo Hải Vân. Ở đây cũng như ở nhiều quãng trên đường quốc lộ số 1, chúng tôi gặp từng đại đoàn lính Nhật lũ lượt ngựa nghẽo, súng lớn, súng nhỏ, kéo nhau đến các địa điểm tập trung. Quan cũng như lính, mặt mày ủ rũ. Rõ là một đoàn quân bại chiến, xe chúng tôi lên đến ngang đèo Hải Vân, lính Nhật mời chúng tôi dừng xe lại. Thấy trong xe chúng tôi có súng, bọn lính báo cho bọn quan của chúng, tên chỉ huy đến gặp chúng tôi, chúng tôi chỉ lá cờ đỏ sao vàng cắm ở mui xe, và đưa giấy ủy nhiệm của Tổng bộ Việt Minh ra. Tên quan xin lỗi và mời chúng tôi tiếp tục hành trình. Quảng Ngãi, không khí ở đây càng hừng hực khí thế đấu tranh. Biểu tình tuần hành vũ trang rầm rập. Chị em tự vệ cắt tóc ngắn kề mác vào bánh xe hơi chúng tôi, hô: "Ðứng lại!". Chúng tôi đưa giấy ra, các chị còn chưa nghe. Tôi phải xuống thuyết mãi, các chị nghe có lý, đưa đi gặp đồng chí phụ trách. Anh Trần Quý Hai vừa đi họp ở Tân Trào đã băng về đến tận đây từ lúc nào rồi. Tưởng xe mình đi đã nhanh, anh em còn nhanh hơn mình nữa. Anh Hai đưa chúng tôi về nhà Boong-ga-lô, bổ dừa cho uống rồi nói chuyện một lát, chúng tôi lại từ biệt, xe hơi cứ nhằm hướng Nam phóng mãi.

Ðến Phú Yên, chúng tôi phải dừng lại cả một buổi. Hai nhóm Việt Minh cũ mới có xích mích đòi chúng tôi giải quyết, chúng tôi phải ngồi lại nghe phân trần. Ðôi bên đều hỏi "Hồ Chí Minh là ai?" và được trả lời thì ai cũng hỉ hả và việc trong nhà được dàn xếp yên vui.

Rồi xe chúng tôi lại rong ruổi trên con đường thẳng tắp, đẹp vô cùng của miền Nam Trung Bộ, con đường có núi, có biển và có ánh nắng trong vắt.

Ở đây cũng như ở tất cả các chặng đường chúng tôi đã đi qua, cờ sao đã dậy san sát cả hai bên đường, dòng nước lũ của những đoàn biểu tình quần chúng, vừa đi vừa giơ nắm tay hô khẩu hiệu, không lúc nào ngớt. Làn sóng người đổ ra đường thiên lý, tay cầm dáo, mác, dao búa, gậy tre, tay thước, nét mặt người nào người ấy lồng lộng một hào khí ngất trời. Chúng tôi đi không nắm chắc được tình hình của đoạn đường đằng trước mặt, vậy mà cả cuộc hành trình mạo hiểm lại là hết mừng này, đến mừng khác, vui bất tận. Trên cả một dải non sông dài dằng dặc, ở đâu cũng là một sức trỗi dậy mau lẹ phi thường. Chúng tôi đến đâu là ở đấy cũng đã giành được chính quyền rồi, đi đến đâu cũng là thấy cờ ta bay đằng trước mặt. Tiếng hô khẩu hiệu âm vang bên tai, bằng mọi giọng đường ngoài, đường trong mà cùng một dũng khí. Dường  như  có  cả  một  luồng điện, cực kỳ mạnh, đã truyền đi, làm cả nước cùng dấy lên, cùng chuyển động. Luồng điện tháng Tám ấy là sức quật khởi sẵn có của một dân tộc anh hùng, những truyền thống cách mạng tốt tươi mà từ năm 1930 Ðảng ta đã ra sức phát huy, ra sức bồi dưỡng. Luồng điện tháng Tám ấy là sức mạnh vô song của chính nghĩa, của đường lối, chính sách, chủ trương của Ðảng ta vô cùng chính xác, của những khẩu hiệu đấu tranh mỗi lúc của Ðảng rất phù hợp với lòng dân, của công tác tuyên truyền, tư tưởng khởi nghĩa của toàn Ðảng đã thấm sâu trong quần chúng. Luồng điện tháng Tám ấy là kết quả tất nhiên của cả một cuộc vận động bền bỉ đã xây dựng nên Mặt trận Việt Minh hùng mạnh làm cho nhân dân ta đã được chiến thắng huy hoàng của Hồng quân xô-viết và lực lượng chống phát-xít toàn thế giới cổ vũ, càng thêm tin tưởng sâu sắc ở lực lượng đoàn kết vô địch của chính bản thân mình. Cho nên, đến giờ nhất định của thời cơ thuận lợi, tiếng gọi khởi nghĩa của Ðảng đã có tiếng vang nồng nhiệt trong mỗi con tim yêu nước, tất cả Việt Nam trong cùng một phút đã vùng lên.

Lời nói bất hủ của Lê-nin, trong giờ phút quyết định của Cách mạng tháng Mười, cổ vũ mạnh mẽ những người cộng sản Việt Nam "Do dự là chết. Phải táo bạo! Táo bạo! Táo bạo!". Tin tưởng vô cùng ở sức mạnh quần chúng anh hùng, Ðảng ta, không đầy 5.000 cán bộ và đảng viên, với tinh thần táo bạo xung phong tiến lên đến tận trời, đã lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa toàn quốc thành công.

Vừa đúng một tuần sau khi rời Hà Nội, chúng tôi vào đến Biên Hòa, địa đầu Nam Bộ. Ðêm đã khuya. Trạm gác ở giữa rừng. Các đồng chí ở đây giữ lại, gọi dây nói thỉnh thị Sài Gòn.

Chúng tôi ra dây nói trực tiếp nói chuyện. Ðầu dây đằng kia là anh Nguyễn Văn Nguyễn. Giọng Nguyễn mừng rơn:

- Chúng bay vào ngay. Ðang cần lắm. Ðêm nay vào ngay đi nhớ.

Chúng tôi lại lên xe. Xe chúng tôi đi trước. Xe sau là xe anh em tự vệ địa phương áp giải một bọn Pháp mới nhảy dù xuống rừng Biên Hòa bị anh em ta tóm cổ được không sót một tên và đem về nhốt ở khám lớn Chí Hòa.

Sài Gòn. Trong ánh đèn sáng rực của thành phố, mầu đỏ của cờ càng lộng lẫy. Nguyễn gặp chúng tôi:

- Xong từ hôm qua rồi.

Anh đưa chúng tôi về ngủ ở Nam Bộ phủ, tức là dinh Thống đốc cũ. Mới chợp mắt một lúc, Nguyễn đã đập cửa dựng dậy:

- Ðại biểu các giới, các đảng phái hay tin đại diện Tổng bộ vào đang nhao nhao đòi gặp.

Tôi họp với Xứ ủy xong thì đi gặp hội nghị các đại biểu nói trên. Người hỏi chính sách này, người hỏi chính sách khác và cuối cùng ở đây cũng như mọi chỗ khác đều một câu hỏi:

- Xin cho biết Hồ Chí Minh là ai? Có phải là...

Còn ai nữa? Người đứng đầu Nhà nước cách mạng chính là lãnh tụ tôn kính, người chiến sĩ giàu kinh nghiệm của giai cấp công nhân, người con trung thành rất mực của nhân dân - đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Tiếng hô đồng thanh vang dậy:

- Nhiệt liệt ủng hộ Chính phủ trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Uy tín lớn lao của Bác cùng với ngọn cờ đẫm máu của Ðảng, của Việt Minh đã làm cho nhân tâm tức khắc quy về một mối. Khối đoàn kết dân tộc, lớn rộng hơn bao giờ hết, là nền tảng sắt đá của chính quyền cách mạng sơ sinh.

Tôi điện ra Bắc: "Hai mươi mốt tỉnh tôi đi qua đều đã giành được chính quyền. Khắp lục tỉnh Nam Bộ cũng đã xong".

Hà Nội điện trả lời: "Ngày 2-9 làm lễ tuyên bố Ðộc lập...".

Như mỗi người dân nước, tôi không bao giờ quên được ngày 2-9-1945, ngày nước nhà tuyên bố độc lập. Ngày mở nước ấy tôi được sống ở Sài Gòn, trái tim của miền Nam yêu quý, giữa cả triệu đồng bào lòng hướng về Ba Ðình Hà Nội, lắng nghe tiếng nói của Tổ quốc. Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tiếng Bác vẫn ấm, giọng Bác vẫn ôn tồn mà sang sảng như tôi đã nghe ngày nào ở rừng sâu Pác Bó năm xưa.

Có thể bạn quan tâm