Đứng trước áp lực cạnh tranh của nhiều loại hình nghệ thuật giải trí hiện đại, Nhà hát Cải lương Việt Nam cũng như nhiều đơn vị sân khấu cải lương khác, đang phải đối mặt với vô vàn khó khăn trong thế khủng hoảng chung của sân khấu truyền thống. Ấy là tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng từ kịch bản hay, đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp tới lực lượng biểu diễn tài năng, dẫn tới ngày càng thưa vắng khán giả đến rạp. Song thời gian qua, Nhà hát Cải lương Việt Nam vẫn đều đặn mỗi năm cho ra đời hai đến ba tác phẩm mới có hàm lượng sáng tạo cao để đáp ứng nhu cầu bảo tồn và phát triển sân khấu cải lương. Trong khi nhiều đơn vị nghệ thuật truyền thống khác phải chuyển hướng sang xây dựng thêm những chương trình nghệ thuật giải trí tổng hợp để thu hút khán giả, việc vẫn kiên trì với định hướng dàn dựng những vở diễn lớn, chất lượng cao của Nhà hát là điều hiếm đơn vị nghệ thuật truyền thống nào làm được trong bối cảnh kinh tế thị trường. Đáng quý hơn là hầu như những vở diễn các năm gần đây của Nhà hát như Chuyện tình Khau Vai, Vua Phật, Mai Hắc Đế, Hừng đông, Ni sư Hương Tràng hay Thầy Ba Đợi… đều được khán giả đón đợi và hưởng ứng nhiệt liệt. Điều này chứng tỏ Nhà hát ít nhiều đã tạo được thương hiệu cũng như thói quen thưởng thức cải lương cho một bộ phận công chúng hiện đại. Tuy nhiên, theo nhiều nghệ sĩ, diễn viên của Nhà hát, những nỗ lực này khó có thể đi đường dài và tạo bứt phá nếu Nhà hát cứ mãi không có rạp, không có một nơi đủ điều kiện hạ tầng để tổ chức biểu diễn.
Đạo diễn, NSƯT Triệu Trung Kiên, Phó Giám đốc Nhà hát cho hay: Nhà hát là cái nôi của cải lương đất Bắc thành lập từ năm 1951, tức đã hơn 60 năm hoạt động nhưng vẫn chưa có được một địa điểm để biểu diễn cố định, cho nên phương thức chủ yếu vẫn là biểu diễn lưu động theo đợt, dẫn tới nhiều hạn chế trong bảo đảm, phát huy chất lượng tác phẩm. Lâu nay, anh em nghệ sĩ phải đi thuê nhiều nơi như: Nhà hát Lớn Hà Nội, Rạp Đại Nam, Rạp Hồng Hà… để diễn. Điều này khiến sức nặng về kinh phí dàn dựng biểu diễn gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của các nghệ sĩ cũng như khả năng sáng tạo, sự thăng hoa của diễn viên. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt một sân khấu chuyên dụng để luyện tập, tổ chức biểu diễn còn làm cản trở việc đầu tư thực hiện những chương trình quy mô, có chiều sâu và sức lan tỏa. Bởi nhiều vở có ý tưởng dàn dựng công phu nhưng do phải thuê địa điểm nên lại phải tính toán tới khả năng đáp ứng của sân khấu thuê, chưa kể việc phải vận chuyển cũng làm tốn khá nhiều thời gian, công sức và chi phí. Thêm nữa, điều kiện hoạt động nghệ thuật nghèo nàn, tạm bợ, thu nhập bị ảnh hưởng cũng khiến không ít nghệ sĩ trẻ nản lòng, buộc phải gác lại tình yêu với sân khấu truyền thống để tìm đến môi trường biểu diễn hiện đại đáp ứng nhu cầu thực tế tốt hơn.
Đạo diễn Triệu Trung Kiên cũng cho biết, bản thân anh và ban lãnh đạo Nhà hát đã lên ý tưởng bắt đầu thử nghiệm hình thức xã hội hóa bằng cách diễn thường xuyên tuần một lần tại Nhà hát để khán giả biết đang có một địa chỉ diễn cải lương ở đây. Song việc cơ sở biểu diễn quá hạn chế khiến ý tưởng này không thể thực hiện, nhất là trong điều kiện yêu cầu về thưởng thức nghệ thuật của khán giả ngày một cao. Nghệ sĩ Quang Khải, một trong những diễn viên sáng giá nhất của Nhà hát cho hay: Nếu có một nhà để “hát”, có thể chủ động về lịch biểu diễn, chủ động về việc đánh giá sức hút của tác phẩm đối với công chúng. Các nghệ sĩ tin rằng việc bán vé để khán giả tới xem cải lương sẽ không khó. Hiện chi phí thuê rạp biểu diễn một buổi trung bình cũng tới bốn, năm chục triệu đồng, chưa kể những phát sinh đi kèm. Nếu có nhà hát, chi phí này được đầu tư thêm cho vở diễn, bồi dưỡng thêm cho nghệ sĩ thì chất lượng tác phẩm được nâng cao hơn, các nghệ sĩ cũng yên tâm công tác và cố gắng cống hiến hơn.
Tất nhiên, việc có một địa điểm cố định để luyện tập và tổ chức biểu diễn không phải yếu tố quyết định cho thành công của một đơn vị nghệ thuật. Song thiết nghĩ, trong bối cảnh cải lương đang phải nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn để tự làm mới mình tiến tới có thể tự chủ, đưa những vở diễn trở thành hàng hóa đặc biệt trong môi trường hội nhập quốc tế, thì hy vọng có thể được an cư để lạc nghiệp là mong muốn chính đáng của những nghệ sĩ, cũng là giải pháp để chắp cánh cho nghệ thuật truyền thống vượt qua thách thức. Để thực hiện điều này, cần có cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ kịp thời dành cho những đơn vị nghệ thuật truyền thống. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc đầu tư phải xứng tầm và có cơ chế giám sát, xử lý nghiêm minh, tránh để tình trạng đầu tư hoành tráng nhưng chất lượng không tương xứng như đã từng xảy ra với một vài đơn vị nghệ thuật thời gian qua.