Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc: Dằn lòng từ bỏ một thói quen

- Thưa ông, từ góc độ của một nhà nghiên cứu văn hóa, ông có thể cho biết ý kiến về quyết định của UBND TP Hà Nội?

- Khi bắt đầu nghe về quyết định  này, tôi thấy hơi “vướng”. Nhưng, sau nghe kỹ thì thấy chỉ cấm hơn 60 tuyến phố thì tôi nghĩ rằng có thể làm được và nên làm.

Tôi cho rằng hàng rong là một kết quả của lối sống tiểu nông tồn tại dai dẳng. Đành rằng trong sinh hoạt hiện nay, nó có thể phù hợp và rất tiện lợi với tầng lớp thị dân nghèo và trung lưu như gia đình tôi chẳng hạn. Muốn mua mớ rau con cá, bất cứ thứ gì, cứ ra đầu đường là có, không phải đi xa, khỏi vào siêu thị vừa lòng vòng vừa đắt đỏ. Nhưng tiện lợi đó chỉ là trước mắt. Cứ để mãi thế cũng không được.

 
Một gánh hàng rong bán trầu cau xưa.

Chắc chắn quyết định này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận cư dân Hà Nội, tầng lớp thị dân nghèo và trung lưu. Nếu Hà Nội muốn tiến đến là một đô thị văn minh, trước hết đường phố, hè phố phải thoáng rộng. Nên dù ở góc độ nào, tôi cũng ủng hộ quyết định này.

Vấn đề là chính quyền phải làm thế nào để giải quyết đời sống cho một bộ phận không nhỏ những người bán hàng rong. Họ là tầng lớp dân nghèo sống dựa vào gánh hàng rong đó. Nếu cấm hết ngay lập tức thì không biết họ sẽ sống thế nào, đưa vào chợ thì không nổi.

- Vậy theo  ông, đây đã phải là quyết định đúng thời điểm?

- Tôi nghĩ rằng Hà Nội nên coi đây là thời kỳ quá độ, và vẫn nên duy trì một số tuyến phố hoặc quy định một số giờ nhất định hàng rong được phép hoạt động. Chẳng hạn đối với những hàng quà sáng thì quy định giờ giấc, những hàng hoa tươi, rau quả, đồ chơi có thể được phép bán ở một số tuyến phố nhỏ, phố cổ…

- Theo ông, nếu vậy những tuyến phố đó sẽ có đặc điểm gì? Phố nhỏ, phố cổ, hay phố ngoại vi?

- Theo tôi thì nên có một nghiên cứu về xã hội học kỹ càng rồi quyết định nên duy trì những tuyến phố nào được phép bán hàng rong.

- Tuy vậy, hàng rong trong suy nghĩ nhiều người là điều gì đó gần bản sắc Hà Nội. Quyết định này đã khiến  không ít người rất nuối tiếc về một nét đẹp văn hóa sẽ không còn?

- Tôi cho rằng đây không phải là bản sắc, mà là một đặc thù thì đúng hơn. Đặc thù này cũng không chỉ của riêng Hà Nội, mà là của hầu hết các đô thị Việt Nam. Những đô thị “thoát thai” từ thôn quê, mang theo mình những tập quán tiểu nông của đại bộ phận dân cư, và có những tập quán cố hữu ăn sâu vào tiềm thức người dân không dễ gì từ bỏ.

 
Vi phạm trật tự giao thông, làm mất mỹ quan đô thị.

Đành rằng, đối với số đông người, tiếng rao quà vặt có một ấn tượng nào đó. Tiếng rao bánh dầy giò, bánh mì, tào phớ lúc đêm khuya, khi phố vắng, gợi nhiều cảm xúc thương nhớ lắm. Tuy nhiên, cuộc sống đang thay đổi từng ngày, khi nếp sống thay đổi thì cái gu thưởng thức cũng phải thay đổi. Và thực tế thì cùng với sự thay đổi của phố xá, thì tinh thần đô thị cũng khác xưa. Ngay cả tiếng rao cũng khác rồi. Bây giờ làm gì còn tiếng rao lục tàu xá, chí mà phù, xa tốc mại, xì tấu…  Những quà vặt ngày xưa cũng đã không còn nữa, cũng chẳng tiếc nuối mãi được.

- Vậy qua những tìm hiểu, nghiên cứu của ông, hàng rong có vai trò như thế nào trong đời sống đô thị Hà Nội quá khứ?

- Hà Nội là một đô thị thoát thai từ nông thôn. Đại bộ phận cư dân là người nghèo. Vì vậy, những gánh hàng rong đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Có thể tính về mặt hàng thì hàng rong ngày xưa phong phú hơn nhiều, nhưng lại có vẻ quy củ hơn, không tràn lan như bây giờ.

Thời Pháp thuộc, mặc dù người ta không cấm hàng rong, nhưng dường như có một văn bản ngầm nào đó, nên lính cẩm quản lý hàng rong rất chặt chẽ. Vì thế, vẫn bảo đảm trật tự đô thị. Hơn nữa, khung cảnh phố xá, cư dân ngày xưa cũng khác rất nhiều, nên gánh hàng rong vẫn là một hình ảnh phù hợp với đô thị thời đó. Chứ bây giờ thì rất dễ nhận thấy hàng rong đúng là làm mất mỹ quan đô thị.

- Trong khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi những nhà nghiên cứu văn hóa phương Tây đến Hà Nội, thì hàng rong đối với họ là những ấn tượng đẹp đẽ được lưu lại trong những tác phẩm văn học, hội hoạ đương thời?

- Trước một nền văn hóa  xa lạ, sự cuốn hút đầu tiên là những điều lạ lẫm. Có thể đó là một nét đẹp văn hoá, cũng có thể đó chỉ là một dị biệt gây tò mò mà thôi. Tôi vẫn cho rằng, hàng rong không phải là một nét đẹp bản sắc gì cả, mà chỉ là một đặc thù, một tập quán mà theo sự phát triển của đô thị, sẽ đến lúc không còn phù hợp nữa.

- Còn đối với ông, một người Hà Nội được mệnh danh là “nhà Hà Nội học”, gánh hàng rong sau còn chút lưu luyến nào không?

- Nói về ngày xưa, cứ sẩm tối là những hàng chí mà phù, sa tốc mại, chè trân châu, nước giải khát dạo bán đầu phố, quanh nhà. Trong ký ức của tôi, những tiếng rao đó hay lắm thích lắm. Thuở nhỏ, xin bố mẹ được vài xu, ra hàng chè hàng cháo, thật là hạnh phúc. Hàng rong một thời là dấu ấn Hà Nội, như những hàng quà sáng như bánh cuốn, bún ốc phục vụ tầng lớp bình dân,  những người nghèo. Ngày xưa những hàng rong cũng rất khác bây giờ. Chẳng hạn chỉ đồ chơi trẻ em, nhiều thứ bây giờ đã không còn nữa. Ngày xưa cứ mồng 5 tháng 5, con gái Tây Hồ xuống phố bán bùa tua bùa túi - những miếng vải vụn may thành hình quả trám quả ớt đủ màu, những chiếc khánh, thuốc cho trẻ con… . Những kỷ niệm đó đối với tôi rất đẹp, bấy nhiêu tuổi rồi tôi vẫn nhớ những hình ảnh đó.

Nhưng tôi vẫn không cho rằng đó là văn minh đô thị. Đô thị văn minh là phải như các nước tiên tiến bây giờ, mua bán vào siêu thị, vào quầy, kiốt. Hình ảnh những người bán hàng rong với đôi quanh gánh vắt vẻo trên vai, hay người tiêu dùng tạt ngang tạt ngửa, mặc dù tiện thì  tiện đấy, nhưng theo tôi là không nên có đối với một đô thị lớn.

Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển, phải dằn lòng bỏ qua những thói quen của mình, sự tiện lợi hằng ngày của gia đình mình để vì nét đẹp cộng đồng.

- Xin cám ơn ông.

Có thể bạn quan tâm