Người treo cờ Mặt trận Giải phóng giữa Sài Gòn năm xưa

André Menras còn là tác giả tác phẩm Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn, chúng tôi tố cáo... xuất bản năm 1973 ở Paris.

Anh từng được chính quyền và đoàn thể Việt Nam trao tặng Huy chương danh dự “Vì thế hệ trẻ”, Huy chương “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”, Huy hiệu Thành phố Hồ Chí Minh và đang được đề nghị trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Là một nữ tù Chuồng Cọp-Côn Đảo bị đày về nhà lao Chí Hòa năm ấy đã nghe kể về anh, giờ tôi gặp Menras giữa những ngày thành phố chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày Sài Gòn-miền nam giải phóng. Điều tôi muốn tìm hiểu ở anh là vì sao anh đã  hành động “khác thường” như vậy ở thời điểm ấy.

Anh tâm sự: “Cũng không ít người quanh tôi cho rằng tôi “Walk on the ceiling, not on the ground” (đi trên trần nhà chứ không trên mặt đất), có bạn nói ủng hộ tôi, nhưng không tin tôi sẽ thành công. Bởi thông thường, người ta không dám đi con đường mới, chưa mở, chưa rõ. Những người mở đường nếu cô độc thì cũng chỉ nhất thời, tôi thích mở đường, thích cái mới, đó là tính cách. Nếu bạn chiến đấu với tất cả năng lực và trí tuệ của mình, bạn sẽ giàu có về tinh thần và bè bạn. Hơn nữa, “struggle, you will be young; stop struggling, you will be old” (đấu tranh bạn sẽ trẻ mãi, ngưng đấu tranh bạn sẽ già nua)”.

Tôi cảm thấy như bắt gặp tư tưởng của nhà văn Général MacArthur, trong một Menras đã tuổi 60: “Tuổi trẻ không phải là một giai đoạn của cuộc đời, mà là một trạng thái tinh thần, là thành quả của nghị lực, là trí tưởng tượng phong phú, là sức cảm thụ mãnh liệt, là lòng can đảm chiến thắng sự nhút nhát, thay vì chọn tiện nghi, lại yêu thích sự mạo hiểm… Người ta già đi không phải vì tuổi đời chồng chất, mà vì lẩn trốn lý tưởng của mình…

Cũng chính  tư duy trong trẻo  như ngày nào ở anh, một lần nữa năm 2001, anh lại giành chiến thắng trên đỉnh cao 57m của  tháp chuông nhà thờ St.Nazairei ở Bézier dưới trời mùa đông lạnh  0 độ C. Anh đã chịu đựng suốt năm ngày bốn đêm để đòi chính phủ Pháp phải công nhận thâm niên về hưu của anh có cả hai năm sáu tháng đi làm “đại sứ” Pháp tại khám Chí Hòa và một năm rưỡi làm “đặc sứ” Pháp khắp 16 nước trên thế giới vận động chống chiến tranh xâm lược của Mỹ và tố cáo chế độ nhà tù Mỹ - ngụy ở Sài Gòn.

Và năm 2003, khi chính phủ mới phủ nhận lời hứa năm 2001 của chính phủ cũ về việc công nhận thâm niên kể trên thì anh lại tiếp tục cuộc đấu tranh cũng trên tháp chuông ấy với hơn 40 ngày dưới nhiệt độ nóng 40oC chưa từng có ở châu Âu lúc đó, trong sự hỗ trợ của bè bạn. Và cuối cùng, André Mendras-Hồ Cương Quyết đã chiến thắng. 

Hành động “khác thường” ấy, càng không phải là sự bồng bột nhất thời bởi tuổi trẻ, Menras lý giải : “Tôi biết năm ấy treo cờ tôi có thể sẽ bị bắn rơi xuống, nhưng tôi là người yêu cuộc sống, yêu con người, tôi phải hết sức bảo vệ sự sống của mình để tiếp tục đấu tranh vì quyền con người, nên năm phút trước khi hành động, tôi đã điện thoại cho những phóng viên Pháp, Mỹ, Nhật… đang có mặt tại nhà hàng Continental cạnh đó...”.

Có lẽ sức mạnh và ý chí quật khởi dành cho quyền con người mà theo anh trước tiên là cho người nghèo, còn bắt nguồn từ nguồn gốc gia đình, anh kể: “Cha tôi, một nông dân ở miền Nam nước Pháp, chỉ đi học hai năm, biết đọc mà chưa biết viết, bảy tuổi đã đi ở đợ cho địa chủ, nên tôi sớm hiểu người nghèo, tôi xem người Việt Nam nghèo khó như người bạn Pháp khốn khổ của tôi….”. Và có lẽ sức mạnh của một tình yêu đôi lứa, đã chắp cánh thêm cho anh bay cao và bay xa trong sự nghiệp vì quyền con người. Menras tự hào có một người vợ mà anh cho là tiến bộ trước anh: Năm 15 tuổi, là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Pháp, Annie tham gia biểu tình và treo cờ Mặt trận Giải phóng Việt Nam ở Paris. Năm 1973, 18 tuổi, chị đã là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, phụ trách một Đảng bộ lớn ở Paris. Lúc ấy, 25 tuổi, Menras mới từ nhà tù Mỹ - ngụy ở Việt Nam trở về Paris, họ đã gặp và đến với nhau trong tình đồng chí cùng chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp của nhân loại.         

“Tôi không muốn tôi chỉ là một hình ảnh của quá khứ ở Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, cái hôm nay mới là cái quan trọng…”. Menras là một hình tượng mãi mãi không mệt mỏi đấu tranh vì quyền con người Việt Nam, nếu như hôm qua anh có mặt trên tuyến đầu chống Mỹ ở Việt Nam thì hôm nay, phải chăng cũng chính  tư duy nhân bản đó. Anh trở lại Việt Nam với tư cách là người sáng lập và là chủ tịch tổ chức phi chính phủ-ADEP, để tiếp tục hành động cho quyền con người Việt Nam. 

Menras rất hưng phấn khi kể với tôi những kế hoạch sắp tới: Trong công việc trao đổi kinh nghiệm sư phạm song ngữ Pháp Việt của ADEP ở Việt Nam, mà hè 2005 này, một số trẻ em Việt Nam, trong đó có con em gia đình “Tà ru” (tù ra) của chúng ta sẽ đến Paris dự một cuộc họp lớn với trẻ em khắp thế giới, tôi xin  hứa bằng ngôn luận lẫn hành động thực tiễn sẽ  gây dấu ấn để mọi người không được quên gia đình “Tà ru” của Việt Nam đã hy sinh và đóng góp nhiều cho cuộc đấu tranh vì quyền con người. Menras khá tự tin khi chọn Khu du lịch Bình Quới làm “căn cứ địa” của ADEP ở Việt Nam. Nơi đây anh còn được trợ lực hết mình từ người bạn Cao Lập (bạn tù cùng thời với anh), Giám đốc Bình Quới, mà anh “khoe” là người anh em rất thân thương của anh.

Ngưỡng mộ sức chiến đấu bền bỉ dẻo dai cho lẽ phải trên đời bên cạnh người vợ đồng chí Annie của anh, tôi nói : “ Đồng vợ đồng chồng tát bể đông cũng cạn”, nhưng Menras-dẫu đã khá sõi tiếng Việt, vẫn giữ nét hồn nhiên, thực tế của  nền văn hóa phương Tây, anh nói  như đùa: “Tát cạn nước rồi thì những con cá  sẽ sống ra sao?...”. Tôi chỉ biết mỉm cười.

Có thể bạn quan tâm