Từ xa xưa, người Tà Ôi - Pa Cô sinh sống trên dãy Trường Sơn thuộc địa phận hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, đều mang những họ với tên gọi truyền thống của dân tộc mình như: họ Kê, Kêr, Vien, Patả, Karaai, BlupAKol, Akơơ, Blup, Aviet, TaRay... Quan hệ về dòng tộc của họ được quy định rất chặt chẽ với những điều như: người trong họ không được lấy nhau làm vợ chồng, khi có lễ thờ cúng lớn như cúng thần núi, thần trời... thì các họ đóng góp lễ vật để cúng làng, chứ từng họ không đứng ra cúng riêng lẻ, tính cộng đồng của dòng họ nhờ đó được bền chặt và góp phần bảo tồn vốn văn hóa cổ xưa trong xã hội cổ truyền cũng như hiện đại của người Tà Ôi - Pa Cô.
Mặt khác, sự tiếp nhận ảnh hưởng của người Tà Ôi - Pa Cô trong quá trình tiếp xúc với người Kinh, với cán bộ cách mạng miền xuôi trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã tạo ra sự thay đổi nhất định về họ của người Tà Ôi - Pa Cô. Vùng đồng bào Tà Ôi - Pa Cô sinh sống hiện nay vẫn còn nhiều gia đình mang họ của người Kinh như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê, họ Văn... nhưng quan trọng và đặc biệt hơn cả là sự kiện ra đời của họ Hồ.
Hình ảnh của Bác đã in sâu trong lòng nhân dân Thừa Thiên - Huế nói chung và người Tà Ôi - Pa Cô nói riêng. Thời chống Mỹ ở A Lưới có hai đại biểu ưu tú của dân tộc Tà Ôi - Pa Cô là Anh hùng Hồ Vai, Anh hùng Kan Lịch được ra bắc gặp Bác Hồ, được Bác ân cần hỏi han và nhận được những lời động viên tinh thần để người Tà Ôi - Pa Cô hăng hái đánh Mỹ góp phần giải phóng miền nam, hoàn toàn thống nhất đất nước.
Trong nếp nghĩ, trong tư duy của người Tà Ôi - Pa Cô, Bác Hồ là vị cha già của họ. Là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, suốt đời vì nước vì dân, công lao to lớn của Ðảng và Bác Hồ đã giải phóng họ khỏi ách đô hộ của thực dân đế quốc, đưa lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho muôn dân, đã để lại một niềm tin sắt son và một sức cảm hóa mạnh mẽ đối với người dân. Thực tế lịch sử hơn 35 năm qua đã chứng minh một điều rằng: "Chúng tôi có được như ngày hôm nay là nhờ Bác Hồ, nhờ Ðảng, nhờ cách mạng. Nghe theo Ðảng, Bác Hồ đồng bào Tà Ôi - Pa Cô đã biết làm nhà đất, nhà xây để ở chứ không còn cảnh tạm bợ nữa rồi". Ðó chính là những đổi thay mà anh hùng Hồ Vai đã nói khi tự hào mình là con cháu Bác Hồ, người được mang họ Hồ.
Trước năm 1945 vùng đồng bào Tà Ôi - Pa Cô sinh sống bị bọn thực dân phong kiến cai trị, khiến cho người dân cực khổ, mù chữ, chưa lấy họ để làm văn bản mà chỉ gọi nhau bằng tên như: nếu nam giới thì gọi là Cu là Quỳnh như Cu Trích, như Quỳnh Trên, Quỳnh Hoàng và nữ thì gọi là Kăn (*) như Kăn Min, Kăn Ðờm, Kăn Lịch... Ðến năm 1947, nhiều cán bộ miền xuôi được các tổ chức Ðảng phân công lên hoạt động ở vùng tây Trị Thiên mà chủ yếu là A Lưới, vùng có nhiều đồng bào Tà Ôi - Pa Cô sinh sống. Họ được phân công dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào, qua đó để tuyên truyền cách mạng, trong lúc mọi thứ đều thiếu thốn không có trường, không lớp, không giáo trình, họ chỉ dạy bằng cách viết trên lá chuối, trên mặt đất ở trong rừng sâu. Ðồng bào Tà Ôi - Pa Cô lúc bấy giờ theo học rất đông, con chữ đã biết và họ bắt đầu nhận thức được về cách mạng, về cuộc kháng chiến chống Pháp.
Ðến năm 1959, ở A Lưới có bản tin tiếng Tà Ôi, do thầy Ku Nô Hồ Ngọc Mỹ dùng bộ chữ Tà Ôi để viết khẩu hiệu, đặt bài hát, hò vè... Ðể phục vụ và tuyên truyền cách mạng trong đồng bào dân tộc và từ đây sự nhận thức về Ðảng, về cách mạng, về Bác Hồ được nâng cao.
Tình cảm sâu sắc đó phát triển đến cao độ khi đồng bào Tà Ôi - Pa Cô nghe tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, đã dấy lên phong trào lấy họ Hồ làm họ của mình để tỏ lòng thương tiếc và kính yêu vô hạn, luôn tưởng nhớ đến Bác. Những ngày lễ tang Bác và cũng là những ngày đồng bào các dân tộc Tà Ôi - Pa Cô mang họ Bác Hồ. Lễ mang họ Bác Hồ được tổ chức trang trọng tại nhiều địa danh A Lưới. Chính vì thế mà sau này, trong việc ôn lại truyền thống vẻ vang của Ðảng bộ A Lưới, sự kiện này được nhắc đến như là một mốc son chói lọi nhằm giáo dục tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ rằng: "... tin đau đớn, được truyền đến Bác Hồ kính yêu không còn nữa!... Bản làng nào nhân dân cũng biết Bác, nhắc đến Bác. Họ thường nói "muối Cụ Hồ", "vải Cụ Hồ", "chữ Cụ Hồ", "bộ đội, cán bộ Cụ Hồ"... Nhiều người lấy họ Hồ làm họ của mình, đó chính là sự thể hiện tấm lòng yêu kính và biết ơn vô hạn đối với Bác" (**).
Theo Ðảng, theo Bác Hồ kháng chiến, huyện A Lưới có 557 người con dân tộc thiểu số hy sinh cho đất nước, 1.018 thương bệnh binh, đóng góp 33.873 tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn dân công hỏa tuyến, mười bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 14/21 xã được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ðó chính là những hy sinh và thành quả mà người Tà Ôi - Pa Cô đã cống hiến và có được.
Hiện nay, toàn huyện A Lưới (Thừa Thiên - Huế) có 11.827 người Tà Ôi - Pa Cô mang họ Bác Hồ, chiếm tỷ lệ 40,3%. Ðiều đó chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của họ Hồ trong cộng đồng người dân Tà Ôi - Pa Cô ở miền tây Thừa Thiên - Huế.
Trên quê hương của những người mang họ Hồ hôm nay, sau chiến tranh, cái đói, cái nghèo, cái lạc hậu đã lùi xa. Nhiều năm qua, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã tập trung cho các chương trình phát triển, nâng cao đời sống cho bà con dân tộc Tà Ôi - Pa Cô. Trong đó Chương trình 135 mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo được bộ mặt nông thôn miền núi mới, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền. Tại các xã, hệ thống trường học, điện, đường, trạm y tế được xây dựng hoàn chỉnh 100%. Các đập thủy lợi và hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hóa, bảo đảm cung cấp đủ nước tưới cho sản xuất lúa hai vụ. Ðiện lưới đã về tới tận thôn, bản vùng sâu, vùng xa, có hơn 75% số hộ được dùng điện, 60% số hộ được dùng nước sạch, hợp vệ sinh.
Một số lĩnh vực đầu tư phát triển như sản xuất, khai hoang, bố trí lại dân cư, lập vườn, trồng cây lâm nghiệp, cao-su, cà-phê luôn luôn được tỉnh chú trọng đầu tư. Ðặc biệt, trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên - Huế đã hoàn thành 100% chương trình xóa 2.440 ngôi nhà tạm cho người Tà Ôi - Pa Cô.
Chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bào các dân tộc miền núi của Ðảng và Nhà nước giúp cho bà con ổn định việc định canh, định cư, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và vật nuôi phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán canh tác của từng vùng. Trong năm qua, huyện A Lưới đạt năng suất lúa nước bình quân từ 38 - 40 tạ/ha/vụ. Trong đó đáng biểu dương đồng bào Tà Ôi - Pa Cô ở các xã đã biết vận dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật do đó năng suất lúa tăng như: xã A Ngo: 48 tạ/ha, xã A Ðớt: 40 tạ/ha.
Nhờ có những chủ trương và chính sách của Ðảng và Nhà nước, mà đặc biệt nhất là Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", trong những năm qua, đồng bào Tà Ôi - Pa Cô đã không những phát huy mặt tích cực vốn có của cộng đồng mà còn biết tiếp thu những cái mới để phát triển kinh tế ổn định cuộc sống, cụ thể: Có nhiều hộ gia đình tham gia công nhân nông trường, nhận trồng và chăm sóc cà-phê ca-ti-mo. Ðến nay trên địa bàn toàn huyện A Lưới, vùng đồng bào Tà Ôi - Pa Cô đã trồng được 800 ha cà-phê, 5.000 ha rừng, nhận khoán, quản lý và bảo vệ khoảng 73.000 ha rừng, tái sinh trên 8.000 ha rừng khác, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 61% năm 1999 xuống còn 29,39% trong năm 2008.
Ðời sống văn hóa tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng cao. Nếu như trước đây họ chỉ biết lên nương, lên rẫy, đi rừng nay đã học được cái chữ, học các nghề mới, như con gái học được nghề may, con trai học nghề sửa chữa xe máy. Tất cả đều do Trung tâm lao động và giới thiệu việc làm của tỉnh đào tạo miễn phí. Hiện nay, cứ 3,8 người dân thì có một người đi học. Toàn địa bàn của người Tà Ôi - Pa Cô đã có trường học đầy đủ các cấp học từ mầm non đến THPT. Ðến nay, đã có hơn mười người đang là cán bộ ở xã là người có trình độ đại học với các ngành nông - lâm, y dược, luật... Chính họ đang từng ngày, từng giờ phấn đấu đổi thay mảnh đất A Lưới ngày càng giàu mạnh, người Tà Ôi - Pa Cô ngày càng có nhiều tiến bộ. Các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan được loại trừ, thay vào đó là 100% trạm y tế xã có bác sĩ góp phần chăm lo tốt sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Tỉnh còn thực hiện mô hình quân dân y kết hợp, phối hợp với các tuyến biên phòng khống chế, đẩy lùi các bệnh như sốt rét, bướu cổ, ma chay... Chất lượng cuộc sống của người Tà Ôi - Pa Cô ngày càng được nâng cao.
Anh hùng Hồ Ðức Vai là người có nhiều kỷ niệm thiêng liêng nhất đối với Bác Hồ. Khi nhắc đến kỷ niệm đó, ông nói: "Tôi rất xúc động khi được Bác hỏi thăm tình hình chống Mỹ của bà con dân tộc Tà Ôi - Pa Cô, hỏi thăm sức khỏe của đồng bào, động viên tôi cố gắng đóng góp sức mình cho kháng chiến". Chính anh hùng Vai là một trong những người đã cảm nhận sâu sắc sự thiêng liêng khi được mang họ Bác Hồ. Không những thế ông còn động viên người thân trong gia đình cùng mang họ của Bác, ông nói: "Vì thế tôi - vợ tôi và các con cháu sau này đều tự nguyện mang họ Hồ mãi mãi, để thể hiện tấm lòng của đồng bào các dân tộc đối với Bác Hồ".
Anh hùng Hồ Thị Kan Lịch, trong kỷ niệm của mình đã có lần kể: Khi ra bắc gặp Bác rồi nhưng khi về lại miền nam vẫn nhớ mãi câu nói của Bác: "Cháu Lịch làm anh hùng đã khó mà giữ vững tư cách anh hùng lại càng khó hơn". Khi nghe tin Bác mất, bà đã cùng gia đình tự nguyện mang họ Hồ để tỏ lòng trung thành và biết ơn vô hạn đối với Bác, với cách mạng. Bà vẫn luôn dạy con cháu thực hiện tốt điều đó.
Noi gương những người đi trước mà tiêu biểu là các anh hùng: Hồ Ðức Vai, Hồ A Nun, Hồ Dục, Hồ Thị Kan Lịch, Hồ Thị Ðơm..., thế hệ trẻ Tà Ôi - Pa Cô ngày nay càng tự hào được mang họ Bác Hồ càng ra sức học tập, lao động để xây dựng và bảo vệ quê hương giàu mạnh.
Sự kiện người Tà Ôi - Pa Cô mang họ Bác Hồ là phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam. Ở Bác Hồ có sự hội tụ của tinh hoa văn hóa dân tộc, vừa đậm đà chất đạo đức truyền thống, vừa thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn, như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
"Người là cha, là bác, là anh.
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu đỏ"
Xuất phát từ lòng yêu mến, biết ơn và kính trọng vô hạn lãnh tụ Hồ Chí Minh nên đồng bào Tà Ôi - Pa Cô luôn luôn cảm thấy được che chở trong "Quả tim lớn" của Người và hình ảnh Bác Hồ mãi mãi là "người Cha, người Bác, người Anh" trong lòng họ.
TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG
--------------------------
(*) Tiếng Tà Ôi - Pa Cô gọi là Kăn, người Kinh thường đọc Kan.
(**) Lịch sử Ðảng bộ huyện A Lưới, NXB Thuận Hóa, Huế, 1998, trang 116.