Người lính xe tăng viết văn... bằng mắt

"Xe tăng gọi! Xe tăng gọi! Cao xạ nghe rõ, trả lời! Ðến đây uống mấy ly rượu đi! Nhớ "chúng nó" lắm, đồng đội ơi!". Và hiển nhiên là tôi sẽ hét rõ to vào trong máy với giọng của một người lính chân chính: "Sắp say đến nơi rồi, nhưng vẫn cứ đến! Chiến hữu đã gọi, mưa bão cũng lên đường! Tôi sẽ đem theo cả "khẩu Bazôka" để cùng nhau chia lửa!". Dứt lời, tôi cầm điếu cày lao vút ra khỏi nhà, quay lại thấy vợ và hai cậu con trai nấp sau cành đào, mở to cả sáu con mắt lo lắng nhìn theo và họ tưởng như lại sắp có "chiến sự" đến nơi. Nhưng chưa bao giờ, những người thân trong gia đình ngăn cản việc tôi chạy tới với những người đồng đội. Có một cái gì đó không thể cắt giải thành lời, chỉ có thể cảm nhận được thôi - không phải tôi chạy tới nhà họa sĩ Lê Trí Dũng (ảnh), mà là cả hai chúng tôi, một lính xe tăng và một lính cao xạ, cùng nhau chạy về phía những người đã khuất - phía những người lính đã bỏ mình vì Tổ quốc ngày ấy.

Như chúng ta đã biết, theo một thông báo chính xác, đã có hơn 500 họa sĩ, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam từng khoác áo lính. Ngoài ra, còn có hàng trăm họa sĩ khác cũng lăn lộn sống chết trên khắp các chiến trường từ bắc vào nam. Họa sĩ Lê Trí Dũng cũng kịp thời có mặt trong đội quân hùng hậu đó - với tư cách là một người lính thuộc Binh chủng Tăng - Thiết giáp.

Từ hàng trăm rồi hàng nghìn ký họa còn xém lửa bom - các tác phẩm có kích cỡ lớn của anh lần lượt nối nhau ra đời như: " Vượt trọng điểm" (sơn mài - 1974), "Vượt sông" (sơn mài - 1976), "Cánh rừng Dioxin" (lụa - 1989), "Mẹ của những người lính" (sơn dầu - 1999), "Biên ải" (sơn mài - 2000), "Chân dung người lính" (sơn dầu - 2004)...

Anh đã vẽ bằng tất cả sự say mê lẫn niềm kiêu hãnh về cuộc chiến tranh khốc liệt mà anh đã trải qua. Và bao trùm lên tất cả mầu sắc cũng như đường nét của người lính xe tăng ấy, là một mong muốn thành tâm đặng góp phần nào nhỏ bé, làm siêu thoát và thảnh thơi cho linh hồn của những người đồng đội đã hy sinh. Anh gắn bó với đề tài chiến tranh đến nỗi,  nhiều người vẫn cứ tưởng anh là họa sĩ ở bên quân đội. Ðâu phải vô cớ mà trong khoảnh khắc thiêng liêng nhất của mỗi năm, anh lại cất tiếng gọi thảng thốt và giữa mênh mông: "Nhớ "chúng nó" lắm, đồng đội ơi!".

Không chỉ vẽ - họa sĩ Lê Trí Dũng còn viết văn. Mặc dù chỉ riêng sự nghiệp hội họa của anh, công bằng mà nói cũng thật đáng tự hào. Hình như có lần anh đã từng khoe, bạn văn của anh còn đông hơn cả bạn vẽ. Và người lính xe tăng này đã viết văn... bằng mắt. Ẩn sau đôi mắt đó bao giờ cũng là một tấm lòng, và nằm trong tấm lòng đó là những con chữ dạt dào cảm xúc chân thành đến mức bi tráng.

Với cuốn Tạp Văn "Những hòn cuội nhặt dọc đường hành quân", tôi nhớ mãi cái động tác vừa e thẹn vừa tự hào khi anh đưa tặng cho chúng tôi vào đúng ngày giỗ của liệt sĩ Hoàng Thượng Lân. Người họa sĩ, người lính xe tăng đã tâm sự về cuốn sách đầu tiên của mình như sau: "Việc sáng tác hệ trọng ví như mài ngọc quý. Ðang tập trung thần khí, chỉ một tiếng chuông cửa, một tiếng con quấy... tán thần ngay. Không làm sao nhớ lại được.

Còn nữa, trong sáng tác, người nghệ sĩ như một cỗ máy khổng lồ, hàng ngàn đinh ốc, mất một chiếc, trục trặc ngay. Cỗ máy tinh tế âm thầm làm việc suốt ngày đêm, lúc ăn, lúc nhậu, cả lúc ngủ, mãi mới nảy ra một ý, mỗi mình biết, ghi lại ngay trên lịch cũ, sổ tay, mẩu giấy báo, bao thuốc lá...". Vậy mà anh chỉ dám nhận những trang viết đã hòa lẫn khá nhiều nước mắt của mình là những "hòn cuội" nhặt dọc đường. Còn tôi, tôi thấy "hòn cuội" nào của anh cũng lấp lánh và lặng lẽ toả ra cái ánh sáng của thần khí. Trong "những hòn cuội" đó rõ ràng có ngọc! Ðối với nghệ thuật nói chung, điều quan trọng nhất vẫn là "cái nhìn". Và anh đã viết văn bằng mắt theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này.

Rồi trong Viên gạch Cổ Thành, cũng bằng đôi mắt của một người lính xe tăng, anh đã dựng lên một bức tường tưởng niệm không lời ngay giữa trái tim của bạn đọc chúng ta: "Trời sáng dần, trên chiếc bàn gỗ lũa hình con rùa, viên gạch Thành Quảng Trị, Viên Gạch Thiêng Cổ Thành vẫn nằm đó, lặng lẽ, thần bí. Một nửa cháy xém, đen thui vì Napan, nửa kia lỗ chỗ vết đạn và cào xước của bom pháo, nó vỡ hình lưỡi rìu cổ, dựng đứng lên trông giống một bức tượng đài".

Bây giờ thì trên bàn viết của tôi là cuốn Tạp Văn thứ hai mà anh vừa gửi tặng. Không hiểu sao lần này anh lại bỏ đi hai chữ "hành quân" mà chỉ lấy là Những hòn cuội nhặt dọc đường. Tuy vậy, dù muốn dù không dấu chân của những người lính, cả người sống lẫn người chết, vẫn cứ in đầy lên các trang viết của anh. Và anh vẫn tiếp tục viết văn... bằng mắt. Một cuốn sách vuông vắn và đẹp đến lạ lùng với 120 minh họa của chính anh. Tôi thích nhất bức có tên là Mẹ của anh - anh đã vẽ nó bằng niềm cảm xúc biết ơn vô hạn và lòng yêu thương vô bờ - đó là hình ảnh một bà mẹ ngồi im một chỗ "giống như một khúc củi khô, đen cháy, sắt lại" - Mẹ ngồi lọt thỏm vào giữa một đống vũ khí và những bộ quần áo lính của cả hai bên chiến tuyến.

Lê Trí Dũng, người đồng đội của tôi ơi! Ðêm nay trên đầu tôi, một mảnh trăng cũng vắt ngang trời. Nếu tôi khen văn của anh viết hay thì thật là không phải, thật chả ra làm sao cả! Có một thứ văn dị ứng với mọi sự bình phẩm rông dài - thứ văn đọc lên là để cùng nhau thấm thía và cùng nhau chia sẻ về những chiêm nghiệm trong trẻo mà dữ dội, tìm thấy ở giữa những góc khuất của cuộc đời - ấy là văn của Lê Trí Dũng. Tôi còn nhớ như in lời thì thào của anh trước cổng tòa soạn báo Văn nghệ, khi anh kín đáo tặng tôi một viên đá được bọc trong giấy xi-măng - viên đá mà anh nhặt về từ Thành Cổ Quảng Trị: "Thấm nhiều máu và vong hồn của những người lính lắm đấy! Nhớ thỉnh thoảng thắp hương, Cầm nhé!".

Phiến đá ấy đang nằm sừng sững ngay trước trang giấy của tôi, chung quanh phiến đá đã đầy những chân hương và hồng rực lên cái mầu linh thiêng, cái mầu mà Lê Trí Dũng đã bao lần nhìn thấy và đã viết lại bằng đôi mắt rưng rưng của mình: "Riêng trong tôi, hình bóng những người lính đội mũ tai bèo, xốc AK, đứng thẳng người xả đạn trong ánh hoàng hôn... mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm, suốt đời chẳng thể nào quên"...

Có thể bạn quan tâm