Theo đó, sửa đổi khoản 1 và khoản 9 Ðiều 3 quy định về bên bảo đảm và giấy tờ có giá; sửa đổi khoản 1 và 2 Ðiều 4 về tài sản bảo đảm (TSBÐ) và tài sản hình thành trong tương lại; bổ sung Ðiều 7a thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt; sửa đổi Ðiều 8 bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai; bổ sung Ðiều 8a bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong tương lai; bổ sung khoản 4 Ðiều 12 người yêu cầu xóa đăng ký GDBÐ là bên bảo đảm; sửa đổi khoản 3 Ðiều 14 GDBÐ được ký trước khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi pháp nhân; sửa đổi khoản 3 Ðiều 19 nhận cầm cố giấy tờ có giá; bổ sung Ðiều 20a giữ giấy tờ về tài sản thế chấp (TSTC); sửa đổi Ðiều 21 TSTC đang bị cầm giữ; bổ sung khoản 5 Ðiều 22 quyền đòi nợ được chuyển giao; bổ sung khoản 3 Ðiều 27 bên thế chấp hoặc người thứ ba đầu tư vào TSTC; sửa đổi Ðiều 47 xử lý tài sản của bên bảo lãnh; bổ sung Ðiều 47a thứ tự ưu tiên thanh toán; sửa đổi khoản 4 và bổ sung khoản 6 Ðiều 58 về người xử lý TSBÐ và TSBÐ là quyền sử dụng đất, nhà ở; sửa đổi khoản 1 Ðiều 61 thông báo trước khi xử lý TSBÐ; bổ sung Ðiều 64a bán TSBÐ; bổ sung Ðiều 64b nhận chính TSBÐ để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; bổ sung khoản 3 và khoản 4 Ðiều 68 chỉ thế chấp quyền sử dụng đất; bãi bỏ quy định tại khoản 2 Ðiều 10.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 10-4.