Chuyện về ông 'Sâm ong'
Ðến TP Sơn La, hỏi ông 'Sâm ong' dường như ai cũng biết. Bởi ông là người có công gây dựng nghề nuôi ong, hình thành nên dãy cửa hàng giới thiệu sản phẩm thương hiệu 'ong Sơn La' trước cửa ngõ đường vào thành phố.
Tháng 4-1965 sau khi tốt nghiệp Trường trung cấp Nông - lâm, chàng trai trẻ Hồ Văn Sâm quê Quỳnh Lưu (Nghệ An) hăng hái xung phong lên Sơn La lập nghiệp. Thế rồi duyên phận gắn với con ong khi cùng năm đó tỉnh Sơn La quyết định thành lập trại nghiên cứu thực nghiệm nuôi ong Sơn La. Ban đầu mới chỉ nghiên cứu giống ong nội bản địa (cenrasna) sinh sống hoang dã mang về thuần chủng nuôi trong đõ gỗ. Tuy giống ong này cho sản phẩm chất lượng tốt nhưng năng suất thấp. Tháng 4-1981 ông là người trực tiếp đưa giống ong I-ta-li-a (nhập ngoại từ miền nam) du nhập vào Sơn La. Trong câu chuyện kể với chúng tôi, ông bảo: Ngày còn bao cấp, từ mô hình trại thực nghiệm, rồi thành lập quốc doanh ong Sơn La làm ăn vui lắm. Thế rồi chuyển đổi cơ chế, thành lập Công ty ong Sơn La, đến năm 1993 làm ăn thua lỗ, công ty phải giải thể. Sau này tỉnh Sơn La chủ trương cho thành lập Trung tâm ong Sơn La, những người nuôi ong phải 'tự bơi' trong điều kiện thị trường rất khó khăn. Những năm gần đây, đời sống kinh tế phát triển, người tiêu dùng hiểu được giá trị sản phẩm của con ong. Ðặc biệt, sản phẩm của ong Sơn La có sự khác biệt so với ong các vùng miền khác, do nguồn hoa rừng Sơn La đa dạng, tác dụng chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe tốt.
Nói về tiềm năng, thế mạnh nghề nuôi ong Sơn La, ông Sâm cho biết: Không nơi nào có điều kiện tự nhiên tốt như Sơn La. Ở đây có thể nuôi ong quanh năm, bởi nguồn phấn hoa rất phong phú. Cũng vì thế ông Sâm cho rằng, không có lý do gì bà con các dân tộc Sơn La không khai thác tiềm năng, lợi thế của mình để nuôi ong, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và làm giàu trên quê hương mình.
Nuôi ong làm giàu
Nghiệp đoàn ong Sơn La vừa tổng kết niên vụ làm ăn năm 2010. Ðược biết, ngoài tổ chức Trung tâm ong Sơn La trực thuộc Hội ngành nghề nông nghiệp nông thôn quản lý, 32 gia đình có quy mô lớn ở khu Trại ong cũ đã cùng nhau xin lập nghiệp đoàn nuôi ong Sơn La. Ðây là tổ chức tự nguyện, mang tính hợp tác, có chung lợi ích, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, do hộ bà Trần Thị Thùa được tín nhiệm làm chủ tịch. Nghiệp đoàn đứng ra tìm kiếm thị trường, cam kết hợp đồng tiêu thụ với khối lượng sản phẩm lớn, giúp cho việc sản xuất đến tiêu thụ thuận lợi. Trong bữa cơm liên hoan do nghiệp đoàn tổ chức, chúng tôi gặp trò chuyện với anh Bùi Văn Hùng, 29 tuổi, ở tiểu khu 4, thị trấn Mường La, dù cách xa 50 km vẫn đăng ký xin vào nghiệp đoàn. Hằng năm nghiệp đoàn tổ chức gặp nhau hai lần, ngoài ra việc trao đổi qua điện thoại, thông tin liên lạc, hỗ trợ sản xuất với nhau thì thường xuyên nên rất bổ ích.
Chúng tôi thăm trang trại nuôi ong của bố con ông Nguyễn Văn Ý, 73 tuổi và anh Nguyễn Văn Trường, quê ở Khoái Châu (Hưng Yên) lên Sơn La xây dựng kinh tế mới từ những năm 60 của thế kỷ 20. Ông cho biết, mấy chục năm cặm cụi cuốc đất làm nương cũng chỉ đủ ăn, chẳng có tích lũy. Năm 1996, ông bắt đầu nuôi ong quy mô lớn. Hơn mười năm qua, gia đình tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Anh Trường cho rằng, nuôi ong không khó, nhưng cũng không đơn giản, nó đòi hỏi phải kiên trì, say mê thật sự và phải am hiểu kỹ thuật mới thành công. Vụ mật vừa qua, bố con anh thu lời hơn 350 triệu đồng. Tiền nuôi ong trong những năm qua đủ trang trải cho ba con ăn học và tích lũy xây nhà. Hộ có quy mô nuôi ong lớn nhất là hộ anh Lê Văn Phương, ở tiểu khu 64, thị trấn nông trường Mộc Châu quy mô 1.300 đàn/năm, thu 40 tấn mật, sáu tấn phấn hoa doanh thu năm 2010 đạt hơn 2,5 tỷ đồng. Hộ anh Nguyễn Trọng Lành, ở nghiệp đoàn ong Sơn La, quy mô 700 đàn/năm, thu 23 tấn mật, năm tấn phấn hoa, doanh thu 1,5 tỷ đồng; Bà Trần Thị Thùa, quy mô 400 đàn/năm, thu 15 tấn mật, hai tấn phấn hoa, doanh thu 800 triệu đồng. Ðặc biệt, hộ anh Lù Kiên Ðoan, dân tộc Thái, ở bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn là hộ tiêu biểu trong đồng bào dân tộc ở Sơn La nuôi ong thành công. Trên đây là những hộ sản xuất lớn, có tính chuyên nghiệp, hằng năm di chuyển đàn ong theo vùng hoa, cho nên hiệu quả kinh tế tốt hơn. Còn những hộ sản xuất nhỏ lẻ, nuôi tại chỗ (không di chuyển) quy mô từ 30 đến 40 đàn như: ông Hải, ông Tá, ở huyện Mai Sơn mỗi năm cũng cho thu nhập hơn 50 triệu đồng.
Nghề nuôi ong ở Sơn La đã đạt mức tăng trưởng khá trong những năm gần đây. Với tổng quy mô đàn ong đạt con số 30.000 đàn, hằng năm sản xuất từ 450 đến 500 tấn mật, 100 tấn phấn hoa, đây thật sự là con số đáng quý và là khối lượng hàng hóa lớn, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân Sơn La. Có thể nói, phong trào nuôi ong ở Sơn La không chỉ xóa đói, giảm nghèo, mà bây giờ đã có nhiều mô hình sản xuất lớn, làm giàu thật sự.
Ðể nghề nuôi ong phát triển bền vững
Ông Sâm cho biết, tiềm năng phát triển nghề ong ở Sơn La còn rất lớn. Hiện nay mới khai thác được một phần nhỏ nguồn hoa thiên nhiên rất phong phú và đa dạng. Ðặc biệt, trong chương trình chuyển đổi sản xuất, phát triển cây con hàng hóa, những năm tới đây Sơn La còn mở rộng trồng cây cao-su, cà-phê, chè,... sẽ bổ sung nguồn hoa lớn để nghề nuôi ong phát triển. Tiến tới xây dựng thương hiệu sản phẩm ong Sơn La, với mật chất lượng cao, phấn hoa, sữa ong chúa, ấu trùng ong đực,... trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Phát triển nghề nuôi ong không chỉ là dịp quảng bá sản phẩm, giới thiệu Sơn La ra bên ngoài, mà còn góp phần phát triển kinh tế, cải thiện môi trường sống bền vững.
Ðiều ông Sâm còn day dứt là bà con các dân tộc ở Sơn La có truyền thống nuôi ong lấy mật từ xa xưa, nhưng giúp bà con mở rộng nghề nuôi ong, tạo sản phẩm ong thành hàng hóa thì Trung tâm ong Sơn La chưa làm được. Ông kể, năm 2008, Hội ngành nghề nông nghiệp nông thôn Sơn La phối hợp UBND huyện Quỳnh Nhai tổ chức chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ 200 đàn ong cho 20 hộ gia đình dân tộc Thái ở bản Giôn, xã Mường Giôn. Khi còn cán bộ hướng dẫn thì ong phát triển tốt, nhưng khi để bà con tự chủ thì đàn ong teo dần, mô hình chuyển đổi sản xuất cho bà con Mường Giôn thất bại. Thế mới biết, nuôi ong cần quy trình chặt chẽ, kiên trì, đầu tư thời gian, công sức mới có thu nhập. Từ bài học trên, năm 2010 Trung tâm ong Sơn La đã tuyển chọn hai cháu Tòng Văn Phương và Tòng Văn Thanh, ở bản Giôn cho đi vừa học vừa làm tại các trại nuôi ong. Có lẽ cách 'nhen đốm lửa', nhân mô hình như thế nghề nuôi ong mới có thể đi vào đời sống sản xuất của bà con.
Với những người quan tâm đến con ong và nghề nuôi ong, chúng tôi dành kết thúc bài viết xin nêu một hiện tượng: Thời gian vừa qua một số bà con ở vùng cây keo tai tượng Hòa Bình ngăn chặn, gây khó khăn không cho các hộ nuôi ong đến đặt ong khai thác. Việc này Hội ngành nghề nông nghiệp nông thôn Sơn La đã có công văn đến các cơ quan chức năng can thiệp, giúp đỡ. Chuyện về con ong và người nuôi ong ở Sơn La hôm nay nhiều chuyện vui, nhưng cũng chợt buồn. Mong các cấp chính quyền và bà con nhân dân hiểu lợi ích kép của con ong mà hỗ trợ giúp cho người nuôi ong mang lại hạnh phúc cho đời.