Để phát triển toàn diện kinh tế-xã hội khu vực vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngày 2/4/2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Thực hiện nghị quyết, các tỉnh ủy, thành ủy trong vùng xây dựng chương trình, kế hoạch hành động triển khai nghị quyết với những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Sau hơn ba năm triển khai nghị quyết, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có chuyển biến tích cực. Nổi bật là hạ tầng giao thông chiến lược có bước đột phá kết nối nội vùng và với Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều dự án năng lượng tái tạo đi vào hoạt động, nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ, là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; văn hóa xã hội tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hoàn thành việc sáp nhập các tỉnh, thành phố trong vùng, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được vận hành thông suốt, bước đầu phát huy hiệu quả của việc tinh gọn bộ máy tại các địa phương.
Để phát triển toàn diện kinh tế-xã hội khu vực vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngày 2/4/2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì việc tổ chức thực hiện nghị quyết tại một số tổ chức, đơn vị, địa phương còn thiếu chủ động, tích cực. Chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và các địa phương có lúc, có nơi chưa thật sự chặt chẽ. Cụ thể như chưa có thiết chế liên kết vùng đủ mạnh. Các cơ chế, chính sách đặc thù cho liên kết vùng chậm được ban hành; liên kết trong việc thực hiện quy hoạch, đầu tư phát triển, đào tạo và sử dụng lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin vùng, liên vùng,... chậm được triển khai. Thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung liên vùng; thiếu nền tảng số dùng chung phục vụ điều hành vùng. Năng lực đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ còn hạn chế…
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng còn thiếu đồng nhất ở nhiều cấp, nhiều ngành dẫn đến tư duy phát triển vùng, liên kết vùng chậm được đổi mới. Theo nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục phát huy hiệu quả, các cấp ủy, chính quyền cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế vùng, tạo động lực cho đổi mới, phát triển phù hợp không gian địa giới hành chính mới và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Các cấp ủy, tổ chức đảng phải đổi mới tư duy lãnh đạo theo hướng hiểu sâu, làm đúng, làm đến cùng; cụ thể hóa nghị quyết bằng chương trình hành động, quy hoạch, dự án và cho kết quả đo đếm được.
Bí thư Tỉnh ủy An Giang Nguyễn Tiến Hải
Bí thư Tỉnh ủy An Giang Nguyễn Tiến Hải cho rằng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải đổi mới tư duy lãnh đạo theo hướng hiểu sâu, làm đúng, làm đến cùng; cụ thể hóa nghị quyết bằng chương trình hành động, quy hoạch, dự án và cho kết quả đo đếm được. Tại An Giang, nhằm kết nối hạ tầng giao thông gắn với hạ tầng kinh tế-xã hội, Tỉnh ủy chỉ đạo đẩy mạnh chiến lược lấy đầu tư công làm “vốn mồi” dẫn dắt đầu tư tư nhân, tập trung nguồn lực cho các công trình có tính lan tỏa cao.
Trọng tâm là tuyến cao tốc Châu Đốc-Cần Thơ-Sóc Trăng; hệ thống hạ tầng phát triển kinh tế cửa khẩu gắn với logistics; hạ tầng nông nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu, cùng các tuyến giao thông liên kết vùng. Việc đồng loạt triển khai các dự án này đã tháo gỡ điểm nghẽn về giao thông, mở ra triển vọng lớn trong kết nối liên vùng, rút ngắn thời gian tiếp cận hệ thống cảng biển, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của An Giang trong chuỗi phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, Trung ương cần tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm địa phương trong quản lý đầu tư, quy hoạch và đất đai; sớm hoàn thiện khung pháp lý để triển khai các mô hình đột phá như khu thương mại tự do và trung tâm liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản vùng.
Đối với cơ sở hạ tầng, nghiên cứu áp dụng ưu tiên nguồn lực để hoàn thiện các trục cao tốc kết nối vùng; chuẩn bị các điều kiện để khởi công sớm tuyến đường sắt tốc độ cao Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Thơ-Cà Mau. Đây là “cú húych” chiến lược để xóa bỏ rào cản về chi phí vận tải và mở rộng không gian kinh tế cho toàn vùng.
Về đổi mới cơ chế điều phối vùng, xác định rõ thẩm quyền của cơ quan điều phối trong việc quyết định các dự án liên vùng và xây dựng hệ thống dữ liệu vùng thống nhất trên nền tảng số để dùng chung cho tất cả các địa phương…